Phục hồi sinh thái có ý nghĩa gì ?
Định nghĩa phục hồi sinh thái được công nhận rộng rãi nhất được đề xuất bởi Hiệp hội phục hồi sinh thái (Society of Ecological Restoration - SER), định nghĩa việc thực hành này là: "Quá trình hỗ trợ phục hồi hệ sinh thái đã bị suy thoái, hư hỏng hoặc bị phá hủy." 129 Về mặt khái niệm, một hệ sinh thái được phục hồi chứa một số loài nhất định xảy ra trong hệ sinh thái tham chiếu. Các nhóm chức năng (bao gồm các loài thực hiện các chức năng sinh thái khác nhau) có mặt hoặc đang trong quá trình xâm chiếm khu vực, trong khi các mối đe dọa tiềm tàng đối với sức khỏe và tính toàn vẹn của hệ sinh thái đã bị loại bỏ hoặc giảm bớt. Ngoài ra, hệ sinh thái đã được phục hồi sẽ đủ khả năng chịu đựng các sự kiện gây căng thẳng thông thường, nó tự duy trì và có khả năng tồn tại vô thời hạn trong điều kiện môi trường hiện tại.129, 99


Khái niệm của SER đã phát triển và gần đây, đã trở thành: "khoa học, thực tiễn và nghệ thuật theo
dõi và quản lý sự phục hồi tính toàn vẹn sinh thái của các hệ sinh thái, bao gồm mức độ đa dạng sinh học tối thiểu và sự biến đổi trong cấu trúc và chức năng của các quá trình sinh thái, có tính đến các giá trị sinh thái, kinh tế và xã hội của nó. [... Nó] tìm cách đảm bảo rằng khu vực sẽ không trở lại tình trạng xuống cấp, nếu được bảo vệ và / hoặc quản lý hợp lệ. "130
Đối với Bộ Môi trường của Brazil, phục hồi sinh thái có mối quan hệ trực tiếp với sự phục hồi của các khu vực xuống cấp (Recovery of Degraded Area - RDA) và phù hợp với định nghĩa được sử dụng bởi SER.131

Một số cách tiếp cận hiện đại về phục hồi sinh thái được thông qua bởi các tổ chức được quốc tế
công nhận là mang lại phúc lợi cho con người như là kết quả chính của quá trình phục hồi.

Ví dụ,

Đối tác Toàn cầu về Phục hồi Rừng và Phong cảnh (Globan partnership on Forest and Landscape
Restoration - GPFLR) định nghĩa nó là "quá trình lấy lại sự toàn vẹn sinh thái và nâng cao sức khỏe của con người trong cảnh quan rừng bị phá hủy và suy thoái." 132

Tương tự, định nghĩa được sử dụng bởi Liên minh phục hồi sinh thái vườn (Ecological Restoration
Alliance of Botanic Gardens) nhấn mạnh rằng "Phục hồi sinh thái có thể và nên là một thành phần cơ bản của các chương trình phát triển bền vững và bảo tồn trên toàn thế giới nhờ vào khả năng vốn có của nó để cung cấp cho mọi người cơ hội để không chỉ sửa chữa những thiệt hại sinh thái, mà còn cải thiện tình trạng của con người."133
Các định nghĩa khác tập trung nhiều hơn vào các mục tiêu sinh thái, chẳng hạn như của Hệ thống các đơn vị bảo tồn quốc gia Brazil (SNUC): "Phục hồi là một quá trình phục hồi của một hệ sinh thái bị suy thoái hoặc dân số ở điều kiện gần nhất có thể với nguyên bản." 134


Rõ ràng không có công thức có sẵn để phục hồi, vì mỗi môi trường xuống cấp có lịch sử riêng và chịu các yếu tố đòi hỏi các chiến lược cụ thể. Từ quan điểm này, các hành động phục hồi nên được định nghĩa rộng rãi là các hành động thiết lập lại các quy trình sinh thái dựa trên khung cấu trúc xác định sự chuyển đổi từ trạng thái suy thoái sang trạng thái động lực như trong rừng và ý nghĩa của nó về mặt quản lý và sự tham gia của con người cả về mặt không gian và thời gian.

Khung cấu trúc này phải dựa trên tính bền vững cho các khu vực được khôi phục bao gồm các khía cạnh sinh thái, kinh tế và xã hội áp dụng cho cảnh quan với nhiều mục đích sử dụng đất.157 Điều này có nghĩa là ngay cả khi không cần sự tham gia của con người để khôi phục các khu vực cần được bảo tồn, vẫn cần phải bảo tồn chúng theo thời gian, đặc biệt khi nông lâm là một chiến lược quan trọng.


Cuối cùng, các cách tiếp cận để phục hồi sinh thái khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh và mục tiêu cần đạt được. Ví dụ, trong các đơn vị bảo tồn hạn chế tiêu thụ, trong đó mục tiêu chính là khôi phục, càng nhiều càng tốt, thành phần và cấu trúc của cộng đồng thực vật ban đầu (ngay cả khi khó xác định đó là điều cần thiết) thiết lập các loài thực vật địa phương, bất kể tầm quan trọng kinh tế xã hội của chúng. Trong những trường hợp như vậy, việc sử dụng các loài ngoại lai không được khuyến khích vì nó có thể mâu thuẫn với các mục tiêu bảo tồn của khu vực đó.


Tuy nhiên, trong các khu vực hỗn hợp (kết hợp cả sản xuất lẫn bảo tồn), điều quan trọng là phải để nông dân hoặc chủ đất tham gia vào tất cả các giai đoạn lên ý tưởng cho việc phục hồi sinh thái, từ lập kế hoạch đến thực thi và quản lý. Trong các bối cảnh như vậy, các hệ thống nông lâm kết hợp có thể khôi phục các quá trình sinh thái quan trọng cũng như các cấu trúc và chức năng hệ sinh thái, đồng thời cho phép mang lại lợi nhuận kinh tế và tăng cường sinh kế và kiến thức truyền thống trong văn hóa địa phương.123, 135 Theo cách tiếp cận này, mọi người được coi là một phần không thể thiếu của tự nhiên và người tham gia vào quá trình phục hồi.136, 137 Đây là tiền đề cơ bản làm nền tảng cho các nguyên tắc, phương pháp và đề xuất áp dụng của cuốn sách hướng dẫn này.