1. Khái niệm về phân chuồng

- Phân chuồng là hỗn hợp phân và nước giải do gia súc bài tiết ra (phân chuồng không độn) cùng với chất độn chuồng và thức ăn thừa của gia súc.

- Đây là loại phân hữu cơ khá phổ biến ở khắp mọi nơi trên thế giới, mang đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ, khác nhau về thành phần và tỉ lệ các chất dinh dưỡng có chứa trong phân.

- Sử dụng phân chuồng tốt còn là 1 biện pháp xử lý nguồn phế thải gây ôi nhiễm môi trường từ chăn nuôi rất hiệu quả. Vì trung bình lượng phân do gia súc thải ra trong suốt quá trình sinh trưởng thường gấp 20 lần trọng lượng của nó. Khối lượng các chất thải rất lớn này là nguồn gây ôi nhiễm môi trường rất lớn nếu không được xử lý tốt. Đồng thời phân chuồng sau khi được xử lý bón cho cây trồng lại tạo ra sản phẩm phục vụ cho con người.

2. Thành phần của phân chuồng

phân chuồng

2.1. Thành phần

- Thành phần của phân chuồng không ổn định, phụ thuộc vào thành phần của các phần cấu thành, trong đó phần có ảnh hưởng lớn nhất là phân và nước giải do gia súc bài tiết ra.

- Thành phần các chất có trong phân gia súc (phân chuồng không độn) cũng không ổn định do phụ thuộc vào: Loại gia súc, tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc, chế độ cho ăn, hình thức chăn nuôi.

Vậy: Thành phần chính của phân gồm khoảng 65 – 68% nước, 15 – 28% các hợp chất hữu cơ của thức ăn mà gia súc tiêu hóa chưa triệt để.

- Nước chiếm tỷ lệ lớn nhất trong phân gia súc. Trong nước phân của gia súc có đa dạng các chất hữu cơ dễ phân hủy: Ure, axit ureic, axit benzoic, các muối hòa tan: Axetat, cacbonat, oxalat, photphat, sulfat và 1 số chất kích thích sự phát triển của bộ rễ. Trong nước phân, nước giải gia súc thường có 0,2 – 0,25%N, 0,01%P2O5, 0,4 – 0,5%K2O.

- Phân gia súc luôn chứa nhiều các hợp chất hữu cơ như: Các hợp chất xenlulo, gluxit, hemixenlululo, linhin, chất béo, chất sáp, các hợp chất đạm hữu cơ, lân hữu cơ, lưu huỳnh hữu cơ, và nhiều chủng loại axit hữu cơ. Các chất dinh dưỡng thiết yếu đối với cây này luôn khá đầy đủ về chủng loại nhưng có tỷ lệ rất thấp đối với mỗi yếu tố.

- Ngoài ra trong phân gia súc còn có rất nhiều chủng loại và số lượng các vi sinh vật, trong đó VSV phân giải xenlulo chiếm đa số và khá nhiều chủng VSV phản nitrat hóa.

- Các chất độn chuồng thường dùng là các chất có khả năng hút nước cao, thành phần dinh dưỡng thấp. VD: Rơm rạ, than bùn, lá xong tử diệp, mạt cưa.

- Trung bình trong phân chuồng (bao gồm đủ các phần cấu thành) có chứa 0,35%N, 0,22%P2O5, 0,6%K2O, 0,2 – 0,6%CaO, 0,05 – 0,45%MgO, 0,05%S. Ngoài ra, trong 1 tấn phân chuồng còn có trung bình: 2g Cu, 4g B, 30 – 50gMnO, 82 – 96g Zn.

2.2. Các yếu tố có thể ảnh hưởng tới thành phần và chất lượng của phân chuồng

- Gia súc: Mỗi loại gia súc có đặc điểm dinh dưỡng khác nhau nên thành phần phân do chúng bài tiết ra cũng khác nhau. Tình trạng sức khỏe, tuổi gia súc và cách nuôi dưỡng gia súc cũng ảnh hưởng đến thành phần, chất lượng phân. Trong số các loại phân gia súc thì phân trâu bò thường nghèo dinh dưỡng hơn cả.

- Chất độn chuồng: Có tác dụng làm tăng khối lượng và chất lượng của phân chuồng do khối lượng và khả năng hấp thụ của chất độn làm giảm việc mất đạm và các chất dinh dưỡng khác. Chất độn còn làm cho chuồng trại được vệ sinh hơn, tạo cho đống phân tơi xốp, ẩm để hoạt động phân giải của VSV được thuận lợi.

- Lượng chất độn chuồng càng nhiều, càng làm tăng khối lượng phân chuồng và giảm việc mất đạm, nhưng nếu quá nhiều lại làm cho phân trở nên khó phân giải. Lượng chất độn chuồng hợp lý cho mỗi đầu gia súc trong 1 ngày đêm đối với: lợn 1 – 2kg, bò: 4 – 5kg, trâu: 5 – 7 kg.

- Phương pháp chế biến, bảo quản phân: Phương pháp bảo quản chế biến cũng ảnh hưởng rõ đến thành phần, chất lượng của phân chuồng. Các phương pháp chế biến phân để nhanh có phân chuồng sử dụng thường dẫn đến mất nhiều chất hữu cơ và đạm hơn.

3. Tính chất của phân chuồng

phân chuồng

Phân chuồng là loại phân hữu cơ điển hình, rất phổ biến, có đầy đủ tác dụng của phân hữu cơ (cải tạo tính chất đất, cũng cấp dinh dưỡng, tham gia vào vòng tuần hoàn tự nhiên và bảo vệ môi trường).

- Về mặt dinh dưỡng phân chuồng có các đặc điểm sau:

Là loại phân hỗn hợp, có chứa hầu hết các nguyên tố dinh dưỡng từ đa lượng đến trung lượng, vi lượng và cả các chất kích thích sinh trưởng. Trong ba nguyên tố dinh dưỡng đa lượng thì: Kali chiếm tỷ lệ cao nhất, và chủ yếu ở dạng dễ tiêu đối vói cây trồng, lân có hệ số sử dụng khá, đạm chủ yếu ở dạng hữu cơ nhưng cũng có một phần dễ tiêu mà cây trồng có thể sử dụng ngay (NH4+, NO3-). Do vậy, bón phân chuồng với liều lượng thích đáng sẽ cung cấp từ từ dinh dưỡng cho cây trồng, bón nhiều cũng không sợ gây ảnh hưởng xấu tới cây như trường hợp bón nhiều phân khoáng cho các cây trồng mẫn cảm với nồng độ muối cao.

- Tuy nhiên phân chuồng cũng có nhiều nhược điểm, cụ thể như sau:

+ Tỷ lệ các nguyên tố dinh dưỡng (kể cả đa lượng) có trong phân chuồng đều ở mức thấp (<1%), hiệu quả chậm hơn nhiều so với phân hóa học. Do vậy để đáp ứng tốt yêu cầu dinh dưỡng của cây trồng, khi bón phân chuồng rất cần phải kết hợp bón với phân hóa học.

+ Sử dụng phân chuồng có chi phí vận chuyển, bảo quản và bón phân lớn so với phân hóa học.

- Phân chuồng là loại phân hữu cơ cần thiết phải bảo quản, chế biến do các lí do sau:

+ Phân thải ra không được bón ngay vì sản xuất nông nghiệp theo mùa vụ, chất lượng phân sẽ bị giảm đi nhiều nếu không được bảo quản tốt. Trong phân chuồng còn có thể có: Mầm mống bệnh, hạt cỏ dại cần được xử lý trước khi dùng.

- Trong quá trình chế biến phân chuồng, khối lượng phân và tỉ lệ chất hữu cơ giảm đi đáng kể so với ban đầu nhưng tỷ lệ N, P2O5, K2O tăng lên. Tùy theo mức độ phân giải của phân người ta phân biệt: phân chuồng tươi ít biến đổi, phân nửa hoai mục, phân hoai mục và mùn.

- Phân chuồng phản ánh khá trung thực thành phần hóa học của đất ở địa phương, do đất nghèo hay giàu chất dinh dưỡng nào đó thì trong phân chuồng cũng sẽ nghèo hay giàu chất dinh dưỡng đó.

- Nước giải gia súc, nước phân chuồng có thể coi là loại phân hỗn hợp NPK (có 0,2 – 0,25% N, 0,01% P2P5, 0,4 – 0,5% K2O) ở dạng hòa tan mà cây trồng có thể sử dụng ngay được, nhưng cũng rất dễ mất N dưới dạng NH3).

4. Kỹ thuật sử dụng phân chuồng

phân chuồng

- Phân chuồng sau khi được ủ phải được ủ vận chuyển sớm ra ngoài đồng và vùi ngay vào trong đất để tránh mất đạm ở dạng dễ tiêu (35 – 40%).

- Nên dùng phân chuồng nửa hoai mục trong trồng trọt vừa có lợi về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây vừa có lợi về mặt cải tạo đất. Do loại phân này chứa nhiều đạm hơn và tác động đến việc hình thành kết cấu, cải tạo đất tốt hơn mùn.

- Chỉ dùng phân chuồng được ủ hoai mục hoàn toàn khi bón cho ruộng mạ, vườn ươm cây con, và các loại rau ngắn ngày.

- Không nên bón phân chuồng tươi, nhất là khi phân có độn nhiều rơm rạ vì quá trình phân giải rơm rạ trong đất làm hàm lượng đạm và lân dễ tiêu trong đất giảm đi dù là tạm thời cũng làm cho cây gặp khó khăn.

- Hiệu lực của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm, do hệ số sử dụng các chất đinh dưỡng N, P, K của phân chuồng kéo dài qua nhiều năm.

- Về mặt cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng có thể coi bón phân chuồng trước hết nhằm đảm bảo cung cấp dinh dưỡng Kali vì so với N, P phân có hàm lượng kali thương cao hơn cả, mà hiệu lực của kali trong phân như kali trong phân hóa học.

- Hiệu lực của phân chuồng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng của phân đem dùng, điều kiện khí hậu thời tiết và đất đai nơi bón phân, đặc tính sinh học của cây được bón phân.

- Nên phối hợp bón phân chuồng đồng thời với phân hóa học do tác động tương hỗ mà làm tăng hiệu lực chung của việc bón phân.

- Phân chuồng chỉ nên bón lót, bón xong cần được vùi ngay vào đất để tránh N. Bón phân chuồng ở vùng đất có thành phần cơ giới nhẹ, khí hậu khô cần vùi sâu hơn. Khi buộc phải bón thúc bằng phân chuồng thì phải dùng loại phân được ủ hoai mục hay nước phân.

- Phân chuồng có hàm lượng dinh dưỡng thấp lại hạn chế về N, phản ánh trung thực tính chất hóa học đất ở địa phương. Vì vậy trong thâm canh cây trồng không thể chỉ dựa vào phân chuồng, mà phải căn cứ vào năng suất kế hoạch để bổ sung thêm phân hóa học mới có thể đạt năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt. Cũng không thể chỉ dựa vào phân chuồng mà cải tạo hiệu quả tính chất hóa học đất và đáp ứng yêu cầu dinh dưỡng vi lượng cho cây trồng.

 
Nguồn: Giáo trình phân bón