Tài liệu hướng dẫn dành cho giảng viên nông dân

Dựa vào:

Canh tác hữu cơ - Trường cao đẳng nông nghiệp hữu cơ, Đan Mạch
Tài liệu đào tạo của IFOAM về Nông nghiệp hữu cơ vùng nhiệt đới

(Tài liệu nội bộ không phát hành)

 

Các phần trước:  Phần 1.      Phần 2.    Phần 3.  Phần 4   Phần 5   phần 6  Phần 7   Phần 8

 

9 - Sản xuất rau

Một cách lý tưởng, sản xuất rau hữu cơ nên là bộ phận của một nông trại hỗn hợp. Một kế hoạch luân canh cây trồng cân đối sẽ đảm bảo lượng chất dinh dưỡng và vật chất hữu cơ đầy đủ trong đất, đồng thời giúp kiểm soát vấn đề cỏ dại và sâu bênh hại.

Sản xuất rau có thể cho năng suất tốt và lợi nhuận gộp rất cao so với các hoạt động kinh doanh nông nghiệp khác. Tuy nhiên, việc này đòi hỏi các điều kiện canh tác tối ưu và quản lý nông trại tốt.

9.1 Giới thiệu

Đối với một người trồng rau, thời gian chuyển đổi để đạt được trạng thái hữu cơ của vùng sản xuất ít nhất là 12 tháng nhưng nhiều tổ chức cấp chứng nhận yêu cầu thời gian chuyểnđổi dài hơn. Việc kiểm tra kim loại nặng trong đất nên tiến hành ở nơi có tập quán thâm canh cao trước khi chương trình hữu cơ bắt đầu.

9.2 Quản lý nước và đất

Lập kế hoạch trước là yếu tố then chốt để sản xuất rau hữu cơ thành công. Việc phóng thích dinh dưỡng cho cây là kết quả từ hoạt động của các vi sinh vật chế biến vật chất hữu cơ trong đất. Vì thế, để có kết quả đầu ra tốt nhất từ phân ủ hoặc các vật liệu hữu cơ khác cần một khoảng thời gian cho phép giữa bón phân ủ và trồng cây. Trong công thức luân canh khép kín 4 loại cây trồng mỗi năm (Vĩnh Phúc và Bắc Ninh) không có thời gian chođất nghỉ ngơi vì cây trồng được trồng luân phiên một cách liên. Để duy trì sự màu mỡ củađất trong hệ thống canh tác hữu cơ, cây phân xanh phải được đưa vào trong công thức luân canh. Cây phân xanh1 là yếu tố thiết yếu để tạo ra các mức vật chất hữu cơ trong đất, cải thiện cấu trúc đất và cố định các dinh dưỡng. Để đưa một cây phân xanh vào trong luân canh là một thử thách vì nông dân có mong muốn và yêu cầu duy trì mức thu nhập và cânđối nguồn nhân lực đầu vào cho cây trồng của họ. Một giải pháp có thể được chấp nhậnđối với nông dân để xác định và lựa chọn cây trồng cho năng suất trong một thời gian dài hơn, có hiệu quả cao hơn (như cà chua, đậu, dưa chuột, cà tím vv...) ngược lại với việc lựa chọn những rau trồng thu hoạch ngay như cải bắp có sự quay vòng tiền mặt nhanh nhưng lợi nhuận trên mỗi đơn vị diện tích thấp trừ khi nó được trồng trong một khung mùa vụcho giá cao.

 

9.3 Kỹ thuật canh tác

Nông dân ở Sa pa có ít kỹ năng làm đất so với nông dân trồng rau ở Vĩnh Phúc và Bắc Ninh. Họ sử dụng kỹ thuật cơ bản giống như nông dân vùng thấp nhưng lại bỏ rất ít thời gian để làm đất canh tác. Những kỹ thuật chuẩn bị đất cơ bản bao hàm cày đất, sau đó đểphơi đất trong một thời gian ngắn, sau đó làm nhỏ đất và lên luống bằng cuốc tay. Điểm quan trọng để có được đất canh tác tơi xốp là tránh không làm đất khi nó quá ướt. Tất nhiên nông dân Bắc Ninh biết điều này vì họ đã giải thích rằng khi trồng vụ cà chua mới họ đã phải hoãn làm đất vì ruộng bị đọng nước

Các phương pháp và lý do cơ bản để trồng các loại rau khác nhau nông dân đã hiểu rõ và không cần thảo luận thêm trong phạm vi này. Tuy nhiên, một số kỹ năng trồng trọt nhưchuẩn bị luống trồng và trồng cây con nên được đưa vào trong nội dung TOT đặc biệt đối với Sa Pa.

Có thể sử dụng các biện pháp khác nhau để duy trì độ ẩm cho đất. Mức độ vật chất hữu cơcao trong đất và một cấu trúc đất xốp giúp duy trì độ ẩm. Che phủ đất bằng rơm rạ hoặc vật liệu tương tự cũng là một cách. Đối với nông dân ở Sa Pa, đây là yếu tố cốt lõi để giải quyết cho vấn đề thiếu nước hóc búa thường xảy ra trong sản xuất như họ đã mô tả.

Khoảng cách cây trồng được xác định bởi kinh nghiệm và loại rau sẽ được trồng. Nhóm nông dân thử nghiệm ở Sa Pa đã trồng cà chua quá dày và đề xuất rằng họ cần đào tạo kĩnăng trồng trọt trong khi nông dân ở khu vực khác đã biết cách trồng cây với những khoảng cách thích hợp để cho năng suất cao nhất.

Ở Bắc Ninh và Vĩnh Phúc, nông dân đã có những diện tích với kết cấu ổn định được che phủ bằng lưới bảo vệ để trồng rau. Nông dân tin rằng từ những kinh nghiệm của riêng họthì rau trồng được che phủ cho hiệu quả cao nhất. Thảo luận về chất lượng tương xứng của cây trồng canh tác dưới mái che nằm ngoài phạm vi của phần công việc này. Tiến sĩ Hùngđã khẳng định chắc chắn rằng rau trồng được cung cấp mái che cho năng suất cao nhất.

 

9.4 Dinh dưỡng cây trồng và dòng dinh dưỡng

Chất dinh dưỡng nằm xung quanh cây trồng và thông qua bộ rễ và lá của mình, cây trồng có thể hút cả dinh dưỡng vi lượng và đa lượng. Nên đánh giá khả năng cung cấp các chất dinh dưỡng này của đất thông qua việc kiểm tra đất thường xuyên và phân tích lá cây đểcó thể phát hiện ra sự thiếu hụt. Nhiệt độ, độ ẩm, cấu trúc, khả năng thấm và thoát nước của đất cũng đóng một vai trò quan trọng trong khả năng hút dinh dưỡng của cây trồng.

Đối với các ruộng trồng rau thâm canh, lên luống là cần thiết vì chúng giúp việc thoát nước dễ dàng và quá trình làm đất chuẩn bị luống sẽ tạo ra một môi trường gieo hạt và trồng cây phù hợp. Độ rộng luống thường do nông dân xác định và bằng khoảng cách họcó thể với ngang qua luống từ rãnh đi lại. Một luống lý tưởng là nó không bao giờ bị dẫm lên trên khi chăm sóc, vì thế luống phải có độ rộng để khi với ra từ rãnh đi lại tới giữa luống để làm cỏ, trồng cây được dễ dàng. Đi lại trên luống không được khuyến khích vì nó sẽ là cho đất bị nén chặt lại, làm giảm dòng dinh dưỡng tới cây trồng và cản trở thoát nước.

Phân ủ là thành phần cốt lõi để cung cấp cho đất những dinh dưỡng cây trồng cần. Vì thế, làm phân ủ nóng là một tiến trình cơ bản phải được tiến hành trong vùng sản xuất.

Phân ủ được làm tốt có hàm lượng dinh dưỡng trung bình là 2% đạm; 1% lân và 2.5% kali (Xem phụ lục1 ứng dụng làm phân ủ cho các loại rau được chọn)

Bảng 1: Mức độ lấy đi dinh dưỡng trong đất của các loại rau

 

Hành tây lấy đi 120 kg đạm, 50 kg lân và 160 kg kali trên mỗi héc ta để cho một năng suất là 35 tấn/ha và yêu cầu thay thế một lượng phân ủ ít nhất là 10 tấn/ha. Với lượng phân ủnày sẽ cung cấp khoảng 200kg đạm, 100 kg lân và 250 kg kali. Lượng phân bón này sẽtrang trải cho dinh dưỡng bị cây trồng lấy mất đi (như ở bảng trình bày trên).

Bón 10 tấn phân ủ cho mỗi héc ta là mức cơ bản khuyến cáo chung nhưng các kết quảkiểm tra đất cũng nên được sử dụng để điều tiết hài hòa với kế hoạch quản lý mầu mỡ chođất. Các nguồn dinh dưỡng khác sẽ được cần đến cho những cây sử dụng đạm cao như cải bắp.

Cây họ đậu được khuyến cáo trồng để tạo nguồn đạm ưu tiên cho đồng ruộng khi trồng những cây yêu cầu đạm cao như cải bắp.

Sử dụng cây họ đậu để trồng như một cây phân xanh có thể cố định tới 180 kg đạm/ha tùy theo mùa vụ và mức độ ẩm của đất. Đậu tương sau 64 ngày trồng có thể cho năng suất khoảng 106 kg đạm/ha trong mùa khô và 140 kg đạm/ha trong mùa ẩm ướt, đậu đen (Vigna unguicalata) có thể cho năng suất 50-100 kg đạm/ha sau 60 ngày trồng, đậu đen cũng có lợi thế là thức ăn dinh dưỡng cho động vật nuôi khoảng 3-10 tấn/ha vật chất khô. Tuy nhiên, nếu sử dụng luân canh cây trồng ngắn để làm thức ăn cho động vật nuôi thì dinh dưỡng được trả lại vào trong đất đạt hiệu quả rất thấp.

Cây họ đậu có thể được thử nghiệm như một phần nội dung của TOT gồm các loại lạc, cỏba lá được gieo dưới tán ngô, các đậu rồng, đậu triều và điền thanh.

Xem mô tả dinh dưỡng sơ lược và khuyến cáo phân ủ đầu vào trong phụ lục 1 (Koen den Braber).

Vì cây rau là một cây quay vòng nhanh, đòi hỏi dinh dưỡng cao và tức thời, do vậy nó có thể cho biết sự thiếu hụt của nhiều dinh dưỡng trong đất ở ngay giai đoạn đầu. Có thể giải quyết vấn đề này bằng một vài cách như bón thúc phân ủ, phân khoáng hoặc các loại phân qua lá được sản xuất tại nông trại. Trong trường hợp này, các yếu tố vi lượng có thể đượcđưa qua lá bằng các phân bón dinh dưỡng lá. Những triệu chứng cụ thể của nhiều rối loạn dinh dưỡng trong rau đã được chứng minh bằng tài liệu rất rõ ràng.

Một số nguồn dinh dưỡng qua lá có thể được sản xuất bằng cách sử dụng các cây khác nhau trong trại để cung cấp dinh dưỡng. Các phân này có thể được cung cấp hàng tuần qua các giai đoạn chính của cây trồng, khi một cây trồng riêng rẽ cho thu hoạch như loại rau xà lách bắt đầu vào cuốn thì nên dừng việc bón phân nhưng đối với loại rau cho thu quảkéo dài như cà chua thì quá trình cung cấp dinh dưỡng qua lá có thể kéo dài suốt cả vụ(Phương pháp sản xuất dinh dưỡng qua lá trong nông trại được mô tả trong phụ lục 4).

 

9.5 Quản lý sâu bệnh hại
Nguyên tắc cơ bản của quản lý sâu bệnh hại trong nông nghiệp hữu cơ là tạo ra cây trồng

khỏe mạnh để chống cự lại với sự tấn công của sâu bệnh hại tốt hơn.

Môi trường canh tác nên thông qua luân canh cây trồng, trồng cây che phủ và tạo sự đa dạng hóa cho môi trường sống tổng thể để khuyến khích sự có mặt của các loài thiên địch. Những thói quen tốt trong nghề nông như tỉa cây, giữ vệ sinh, kiểm soát bằng biện pháp cơ học như sử dụng bẫy, chuẩn bị đất tốt cùng với sử dụng các loại thảo mộc khác nhauđáp ứng cơ bản cho một chương trình quản lý sâu bệnh hại cân đối

Đối với sản xuất rau, tạo được một cơ cấu luân canh cây trồng tốt, chuẩn bị luống trồng dễdàng thoát nước là yếu tố thiết yếu. Luân canh làm giảm rủi ro lan truyền bệnh từ cây trồng này tới cây khác.

Trồng cây hỗn hợp cũng giúp làm giảm tác động của sâu bệnh hại khi hệ thống canh tác có nguy cơ phát tán rủi ro của sâu bệnh. Một loại cây trồng có thể bị ảnh hưởng bởi sâu bệnh nhưng loại khác lại không. Trồng cây hỗn hợp cũng hoàn trả lại dinh dưỡng cho đất tốt nhất. Việc đưa cây phân xanh vào trong luân canh có thể cũng đáp ứng một môi trường sống cho thiên địch (những con ăn mồi) vì thế làm giảm ảnh hưởng của sâu hại lên các cây trồng khác và nó còn có thêm một lợi ích nữa là sự khác nhau của các cây trồng tạo một môi trường tốt cho các cây trồng khác trong hệ thống bằng việc cung cấp bóng mát, đạm hoặc cản gió. Kết hợp trồng các cây như trồng hành tây với cà rốt, bí xanh với ngô, húng và cà chua là các cây trồng đi kèm nhau rất phổ biến.

Di dời các cây trồng bị bệnh hại trong cánh đồng trước và sau khi thu hoạch giúp làm giảm mức độ lây nhiễm sâu bệnh. Thường những vật liệu thực vật được dọn có thể ủ phân tuy nhiên những vật liệu bị bệnh nguy hiểm nên được đốt.

Được phép sử dụng một số biện pháp đấu tranh sinh học khác nhau hầu hết theo các tiêu chuẩn hữu cơ nhưng cần phải được quan tâm hơn để tránh việc sử dụng các biện pháp kiểm soát này thường xuyên và làm cho nó trở thành một biện pháp thay thế cho các đầu vào trong tập quán sản xuất thông thường và những nông trại quản lý kém.

Một số thực vật hoặc cây trồng có thể được canh tác một cách đặc biệt để tạo thành các dải cây có tác dụng như loài săn mồi hoặc tạo nơi ẩn náu cho các động vật ăn thịt tự nhiên hoặc các côn trùng có ích có thể sinh sống ở đó. Ví dụ những cây thuộc họ hoa tán trồng làm cây chủ cho các côn trùng khác nhau rất tốt như dẫn dụ loài chuồn cỏ (lace wings) trên ruộng lúa. Những dải cây này được trồng và được chăm sóc khi được yêu cầu, những bụi cây nhỏ có thể duy trì như một bộ phận trong hệ thống canh tác ở vườn hay nông trại. Sâu và bệnh hại (xem phụ lục 3 ở IBS cho các đầu vào có thể sử dụng và bị cấm)

Một số sâu hại phổ biến
Giòi đục lá – Nhìn chung giòi đục lá là loại sâu hại nhỏ gây ảnh hưởng tới các lá ở phía ngoài (lá già) của cây. Trong canh tác thông thường (không hữu cơ) các biện pháp kiểm soát sử dụng thuốc sâu nội hấp thấm sâu qua lá và vì thế có thể tiêu diệt giòi đục nằm bên trong lá. Với biện pháp kiểm soát trong canh tác hữu cơ cố gắng tiếp xúc trực tiếp với sâu hại hoặc xử lý thông qua đường tiêu hóa, vì thế việc kiểm soát giòi sẽ kém hiệu quả hơn. Tuy nhiên trong điều kiện canh tác thích hợp, giòi đục lá nhìn chung có thể được lờ đi vì cây trồng thường phát triển đủ nhanh để sản sinh ra nhiều lá mới và vì thế nó không bị ảnh hưởng bởi sâu hại này, ngoài ra trong hầu hết các trường hợp phần lớn giòi đục lá bị kiểm soát bởi các sinh vật ký sinh.

Kiến thức vòng đời nên được sử dụng hướng vào giai đoạn giòi ở bên ngoài lá (trứng, nhộng, ruồi). Chế phẩm xoan có thể được thử nghiệm để kiểm tra hiệu quả của nó trong kiểm soát giòi. Sử dụng bẫy có thể có hiệu quả để bẫy ruồi trước khi nó đẻ trứng.

Đối với nhiều loại sâu – động vật ăn mồi là hàng rào phòng thủ đầu tiên và bẫy đèn cũng rất có ích. Bacillus thuringiensis (BT) có thể được sử dụng ở giai đoạn trồng cây để kiểm soát sâu xám và phun lên cây trong quá trình phát triển để kiểm soát tất cả các loại sâu ăn

lá. Thuốc sinh học BT rất có sẵn ở Việt Nam và các thử nghiệm đã được tiến hành nhưmột phần hoạt động của dự án ADDA-VNFU cho thấy nông dân hài lòng với kết quả thuđược khi sử dụng nó để kiểm soát sâu.

Các loại rệp khác nhau thường tác động đến những bộ phận sinh trưởng mềm của cây bằng việc hút nhựa cây từ thân và tiết ra chất mật như sương đọng lại ở đó (làm vật chủcho mốc đen ký sinh). Các loại rệp mẫn cảm với một số ký sinh và loài ăn mồi (như bọrùa, ruồi ăn thịt, chuồn cỏ và chim). Các biện pháp kiểm soát có thể bao gồm cả phun nước hoặc nước xà phòng, tỏi và ớt và dầu khoáng ở tỉ lệ 5% (5 ml cho 1 lít nước) và phun vào sáng sớm hoặc khi trời có nhiều mây.

Bọ xít (Nezara viridula hoặc bọ xít xanh hại rau) có thể trở thành loại sâu hại đáng lo ngạiđặc biệt trong thời kỳ đất khô hạn. Duy trì ẩm độ đất tốt bằng cách tưới nước thường xuyên có thể làm giảm ảnh hưởng của bọ xít cùng với việc làm sạch cỏ ở những diện tíchở gần phía cuối ruộng. Phun nước sạch có thể làm giảm ảnh hưởng của bọ xít nhưng đối với trường hợp bọ xít phá hoại nghiêm trọng, để cố gắng tiêu diệt chúng còn sử dụng biện pháp trộn bột nhão với nước và phun lên cây hoặc sử dụng thuốc sâu hữu cơ (Theo tiêu chuẩn IBS).

Bọ phấn trắng (họ Aleyrodidea) có thể trở thành vấn đề trong các khu vực có sự lưu thông không khí kém. Có nhiều cách kiểm soát nhưng cách hiệu quả nhất là lợi dụng ong kí sinh (Encarsia formasa và các loại khác). Biện pháp kiểm soát này có thể được khuyến khích bằng cách trồng những cây có hoa ở gần ruộng hoặc cây trồng. Tấm bẫy dính màu vàng, dầu khoáng (trong những trường hợp được cân nhắc) phun tỏi và ớt cũng là những biện pháp được sử dụng.

Sâu bột (Pseudococcus spp) thường được tìm thấy ở những khe hoặc chỗ kín trong phạm vi xung quanh gốc cây. Chúng bị ăn bởi bọ rùa và ong kí sinh chalcid. Đốt những vật liệu thực vật bị nhiễm sâu nặng. Phun dầu khoáng cũng là một biện pháp kiểm soát.

Một số bệnh phổ biến
Bệnh sương mai Phytothera hại cà chua –vệ sinh đất trồng, thoát nước và thông khí tốt, dọn dẹp toàn bộ các lá cây chạm vào đất cũng như lựa chọn các giống cẩn thận có thể được hỗ trợ thêm bằng cách dùng đồng như một loại thuốc trừ nấm, tuy nhiên có những giới hạn được yêu cầu khi sử dụng bắt buộc phải tuân thủ cho mỗi IBS. Dung dịch phân ủ(một chất lỏng được tạo ra khi ngâm một bao phân ủ vào nước qua một đêm) và được bón thường xuyên hàng tuần với tỉ lệ khoảng 20 nước sạch sẽ cho 1 lít dung dịch còn gọi là chè phân ủ. Xem phụ lục 4.

Bệnh mốc sương trên cây họ bầu bí – Bệnh mốc sương trên lá thường tấn công vào giaiđoạn cuối của cây và vì thế nó có thể bị làm ngơ vì lúc đó cây trồng đã cho thu hoạch, tuy nhiên nếu bệnh tấn công cây trồng vào giai đoạn sớm thì lưu huỳnh được sử dụng phổ biếnđể kiểm soát bệnh, ngoài ra axit lactic (từ sữa) hoặc chất bicacbonat của nước có gas (soda) có thể có tác dụng. Dung dịch phân ủ cũng có thể được sử dụng. Một dung dịch cũng có thể được chế ra bằng cách cho vào một túi 5 kg phân ủ và treo nó vào trong một thùng chứa 100 lít nước. Sau 2 ngày dung dịch có thể được phun lên cây với tỉ lệ 20:1. Kỹthuật này yêu cầu thử nghiệm xem có sai sót gì không và hiệu lực của chúng khác nhau thếnào khi sử dụng ở thời tiết và thời gian khác nhau.

 

9.6 Luân canh và trồng cây hỗn hợp

Nguyên tắc của luân canh là các cây được trồng luân phiên nhau có nhu cầu dinh dưỡng từ đất khác nhau. Cây trồng có yêu cầu cao nguồn dinh dưỡng từ cây phân xanh thì các cây trồng tiếp theo nó có nhu cầu ít hơn. Các loại cây khác nhau được trồng trong cách phối hợp này – cây lấy rễ hoặc củ như khoai lang, cà rốt; cây rau ăn lá như cải bắp và loại ăn quả như ngô, cà chua.

Một luân canh điển hình gồm 4 kỳ canh tác dựa trên ý tưởng rằng nên có 25 % diện tíchđất canh tác được nghỉ ở một số giai đoạn trong một chu kỳ canh tác. Trong khoảng thời gian của giai đoạn này nên để đất có đủ thời gian nghỉ để có khả năng tạo ra sự màu mỡcho cây trồng tiếp theo. Do đó, khi luân canh ngắn hiệu quả của cây phân xanh bị giảm bớt vì thế cần điều chỉnh làm sao để có thể sử dụng hiệu quả cây phân xanh. Trong khoảng thời gian luân canh dài hơn (12 tháng hoặc hơn) cây phân xanh có thể được thu hoạch đểlàm phân ủ và làm thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên với hướng luân canh ngắn ở Việt nam sẽlàm hạn chế khả năng này.

Luân canh 4 kỳ canh tác sẽ như sau:
•   Cây phân xanh (điền thanh/đậu tương/lạc) → cây rau ăn lá (như: cải bắp) → cây

rau ăn quả (như: cà chua, dưa chuột, đậu) → cây rau ăn rễ (khoai lang). Xin lưu ý:ớt nên được trồng trong giai đoạn đầu luân canh vì chúng đòi hỏi dinh dưỡng trongđất cao. Sau đó những cây cần dinh dưỡng ít hơn được trồng tiếp theo.

Đối với Sapa là nơi luôn trồng lúa luân canh:

•   Năm1: lúa → cây phân xanh (yến mạch và cây họ đậu → lúa

•   Năm 2: lúa → rau (cà chua hoặc cải bắp hoặc hành tây vv...) → lúa.

Lúa có thể được gieo dưới tán cây họ đậu như cỏ 3 lá trắng để có thể cung cấp dinh dưỡng cho vụ trồng rau dài hơn, đặc biệt thích hợp đối với trồng cà chua có thời gian sinh trưởng dài hơn so với trồng loại cây rau ăn lá. Cỏ 3 lá cũng sẽ giải quyết nhu cầu về đạm của lúa. Cỏ 3 lá có thể cố định khoảng 120kg N/ha.

Một phương pháp trồng cây hỗn hợp là cùng một thời gian có một vài loại cây khác nhauđược trồng cùng nhau (nhưng sẽ phải đương đầu với vấn đề thiếu nước trong mùa khô).

Tiến sỹ Phụ gợi ý cây khoai môn có thể được trồng như một cây thu hoa lợi ở Sapa. Loại cây này được coi là một cây thu hoa lợi có giá trị được canh tác bằng cách sử dụng các biện pháp kỹ thuật truyền thống đang duy trì trên những cánh đồng nhỏ ở gần những khu vực chăn nuôi gia súc hay chuồng lợn giàu dinh dưỡng và bị úng ngập hầu hết thời gian canh tác. Để mở rộng việc sản xuất khoai môn tới các cánh đồng khác cần nghiên cứu khảthi để đánh giá các nguồn lực sẵn có (phân bón và nước).

 

Bắc Ninh và Vĩnh Phúc Luân canh 4 kỳ sẽ như sau:

•   Cây phân xanh (12 tuần) → Cây ăn lá (như cải bắp) hoặc ngô → Cà chua, cây họbầu bí, đậu → khoai lang → cây phân xanh.

Cây phân xanh như lạc Arachis hypogea giống L14 sẽ cho năng suất sinh khối 10tấn/ha vàđạm là 30 kg N/ha. Cây phân xanh sẽ được trồng qua mùa ẩm ướt khi giá rau thấp và việc hoàn trả dinh dưỡng cho đất của mỗi cây thấp một cách tương ứng.

9.7 Duy trì tính nguyên vẹn hữu cơ của khu vực sản xuất

Con người là mấu chốt để duy trì tính toàn vẹn hữu cơ của một vùng sản xuẩt hữu cơ. Nhóm nông dân được tổ chức tốt, hiểu rõ vai trò và trách nhiệm của họ cũng như tự tin trong kỹ thuật sản xuất là yếu tố cơ bản của bất cứ chương trình hữu cơ nào. Ở nơi có nguồn đầu vào xa khu vực sản xuất, người cung cấp nên được biết trách nhiệm của họ nhưmột nhà cung cấp đầu vào “có thể chấp nhận được” và ở đó có thể được khuyến khích đểsản xuất nguồn đầu vào đảm bảo cho nông nghiệp hữu cơ.

Việc sắp xếp theo quy luật tự nhiên như tạo tầng đệm và quản lý nước cũng có ý nghĩa quan trọng như việc kiểm soát đầu vào ở bên ngoài vùng sản xuất như quản lý nguồn phânđộng vật chẳng hạn. Lý tưởng nhất là tất cả phân bón được sinh ra từ nông trại hay vùng sản xuất nhưng các nông trại hầu hết đều thiếu động vật để đáp ứng được điều này, vì thếcó thể sử dụng các nguồn đầu vào từ bên ngoài nông trại kèm theo những quy định hết sức rõ ràng. Trường hợp ở Bắc Ninh nơi tiếp cận với lượng lớn phân bón động vật nuôi công nghiệp phải được kiểm tra để đảm bảo rằng liệu nguồn phân này khi được sử dụng trong sản xuất hữu cơ “có thể chấp nhận” được không. Có nghĩa là sản phẩm phải được kiểm tra xem có các chất gây ô nhiễm không (thức ăn kỹ thuật gen, kim loại nặng hoặc các độc tốkhác) và nếu nó được chấp nhận như sản phẩm “sạch” bởi nơi cấp chứng nhận hoặc dự án ADDA-VNFU thì việc kiểm tra sản phẩm thường xuyên phải được đưa vào quy trình chứng nhận.

Trong tất cả các trường hợp như vậy phân động vật phải được đưa vào ủ nóng theo tiến trình ủ phân nóng (do dự án ADDA-VNFU ) khuyến cáo.

9.8 Nguồn lực sẵn có cho sản xuất hữu cơ

Để duy trì lâu dài sự màu mỡ đất lý tưởng thì dinh dưỡng cần được sản xuất từ trong nông trại. Tuy nhiên, thực tế luôn không như vậy và một số đầu vào có thể phải được lấy từnguồn bên ngoài nông trại nhưng việc làm này không nên khuyến khích. Trước khi có bất kỳ nguồn đầu vào từ bên ngoài nào được đưa vào một nông trại hữu cơ thì nó nên được kiểm định các tiêu chuẩn thích hợp.

Theo truyền thống, các vật liệu làm phân ủ được thu gom ở những nơi hoang dại gần đó cùng với các vật liệu che phủ khác nhau.Việc khảo sát đã chỉ ra rằng việc thu gom các vật liệu này có sự hạn chế về thời gian thu gom, khoảng cách, lượng sẵn có và các vật liệu nàyđược lấy từ các nguồn không rõ ràng vì thế không thể được đảm bảo là có nguồn gốc hữu cơ. Đối với hầu hết các trường hợp hay làm theo thói quen này không nên khuyến khích mạnh mẽ. Để duy trì nền tảng cho sản xuất rau hữu cơ lâu dài, đại bộ phận nông dân nên hướng tới việc làm tăng đầu vào sản xuất phân ủ của họ từ 2 đến khoảng 10 tấn. Điều này cho thấy những thách thức khi tăng lượng phân ủ được làm sẽ phải tăng lượng vật liệu thực vật được thu gom hoặc được tạo ra từ nông trại.

Nông dân cần phải làm:

•   Gia tăng tình trạng màu mỡ cho nông trại hơn như trồng các cây họ đậu, cỏ để tạo sự màu mỡ trực tiếp cho đất mà không cần phải làm phân ủ hoặc trồng một số cây phân xanh ở bất cứ chỗ nào có thể để có nguồn vật liệu làm phân ủ.

•   Việc thu gom vật liệu để làm phân ủ trong nông trại phải trở nên hệ thống hơn trong nông trại sản xuất của họ. Thói quen hiện nay là nông dân chỉ thu gom vật liệu trước khi cần đến một số ngày đã làm giảm rất lớn đến khối lượng vật liệu có thể được thu

•   Sử dụng các vật liệu hữu cơ sẵn có ở phạm vil ớn nhất cót hể

•   Tạo “bãi lưu trữ” cho các vật liệu hữu cơ và liên tục bổ xung vào đó những vật liệu sẵn có được thu lại cho đến khi đủ để có thể làm phân thay vì phải cố đi thu gom cho đủ vật liệu cần chỉ trước khi ủ phân có 1 ngày 

Khóa ToT nên mô tả một tiến trình nhằm xác định các nguồn vật liệu sẵn có khác nhau cho từng địa bàn cụ thể của dự án và xây dựng điểm trình diễn việc thu gom và lưu trữchúng cho các hệ canh tác đó. Một số cái mới nên được thử nghiệm đặc biệt là các loại cỏkhác nhau để xem liệu chúng có thể được sử dụng làm thức ăn chăn nuôi không.

Ở những nơi nông dân có đủ chỗ trống nên trồng cây phân xanh (cây họ đậu và cỏ) để có thể thu hoạch để làm phân ủ. Những cây phân xanh được chọn nên có khả năng tái sinh và cho thu hoạch lâu dài, khó khăn chủ yếu trong tiến trình này là thời gian.

Nói chung, nhóm khảo sát đã cho thấy rằng nông dân có đủ nguồn vật liệu sẵn có trong vùng hoặc gần nơi sản xuất của họ do đó họ có khả năng giữ vững được một hệ thống sản xuất nông nghiệp hữu cơ.

Phân động vật

Có nhiều động vật khác nhau được chăn nuôi trong vùng hoặc ít nhất được nông dân sởhữu. Điển hình như những nông dân có một con trâu hoặc bò, lợn, gà, vịt vv....Để có khảnăng sử dụng phân động vật làm phân ủ và tạo sự màu mỡ cho đất thì những phân này phải có khả năng lấy và cất giữ nó lại được.

Ở Sapa trâu thả lang thang tự do hầu như quanh năm và vì thế làm giảm lượng phân có khả năng thu lại dễ dàng và hệ thống chuồng nuôi cũng làm mất đi hầu hết lượng phân do bị rửa trôi xuống các lạch nước. Sự ô nhiễm gây ra từ các lạch nước này không được chấp nhận theo nguyên tắc sản xuất hữu cơ. Phân động vật phải được thu lại và sử dụng trong nông trại thông qua hệ thống phân ủ nóng.

Ước tính một con trâu cho 4-6 tấn phân mỗi năm và nước tiểu còn có thể được thu lại hoặc dẫn vào ao hoặc đồng ruộng. Nếu 50% lượng phân này được thu lại trong nông trại và lượng còn lại từ các động vật trong khu vực có thể sản xuất hơn 10 tấn phân ủ cho mỗi năm. Nếu lượng phân ủ bón với tỉ lệ 10 tấn/ha thì có đủ dinh dưỡng cơ bản cho khoảng 10000 m2 diện tích sản xuất rau và lúa.

1 con lợn cung cấp ít nhất 200 kg phân mỗi năm đủ để làm ra được khoảng 800 kg phân ủ(25% phân động vật và phần còn lại là vật liệu thực vật)

Gà và các động vật khác thường được thả rông thì phân của chúng theo đánh giá cũng không được làm vật liệu đầu vào cho phân ủ hữu cơ.

Ở Sapa, để làm nông nghiệp hữu cơ khó khăn chính là gia súc thả rông không được kiểm soát, như vậy không thể trồng cây phân xanh trừ khi những khu vực này được rào ngăn lại. Nếu cỏ được trồng và quản lý trong những khu vực được bảo vệ thì tiềm năng để sản xuất 

một tỉ lệ lớn nguồn thức ăn xanh cho động vật bằng cách cắt và vận chuyển đi nơi khác là rất lớn. Cỏ Guatemala Tripsacum fasciculatum có thể cung cấp hơn 150 tấn/ha thức ăn xanh, 1 con bò cần 30 kg thức ăn xanh mỗi ngày. Qui đổi ra thì 1 ha cỏ đủ làm thức ăn xanh cho 10-13 con bò. Ở những nơi cá biệt có mùa vụ canh tác trong điều kiện lạnh hoặc khô thì những số liệu này dao động nhưng về cơ bản khái niệm không thay đổi. Đối với những nông dân ở vùng đất thấp nơi có nhiều cách lựa chọn để có nguồn thức ăn xanh, với 100 m2 có khả năng để sản xuất đủ thức ăn xanh cho 1 con bò trong 1 năm (cỏ và cây họ đậu) và cung cấp khoảng 3.500 kg cây phân xanh làm phân ủ và vật liệu che phủ. Ngoài ra khi cỏ được trồng như một cây lâu năm nó còn có thêm lợi ích là sẽ cải thiện đất rất tốt vì chúng tạo ra một sinh quần rễ dày đặc khi chúng đang phát triển nhờ đó bổ xung thêm vật chất hữu cơ vào trong đất.

Danh mục IBS liệt kê các chất khoáng đầu vào khác nhau có thể được sử dụng cũng nhưhạn chế sử dụng (trường hợp hạn chế sử dụng yêu cầu các sản phẩm khi sử dụng phảiđược phê chuẩn và được chấp nhận bởi các tổ chức cấp chứng nhận hoặc một hội đồng tuơng ứng)

Lân (apatid) – khoáng lân sẵn có ở tỉnh Lào Cai nhưng nhà cung cấp không sẵn lòng bán ra ngoài luồng khi chỉ đựơc hỏi mua với một lượng nhỏ (ý kiến riêng của Koen den Braber)

Ka li–có thể thu được từ tro thực vật hoặc gỗ (8% K và 50% C). Tập quán canh tác truyền thống sử dụng biện pháp đốt rơm và trấu để tạo nguồn kali. Có một số biện pháp kỹ thuật khác cần được cân nhắc kỹ trước khi sử dụng như hun đất. Biện pháp này làm phóng thích dinh dưỡng đất cần thảo luận thêm với tổ chức chứng nhận tiềm năng.

Đất được tạo ra từ phân giun có thể cung cấp một tỉ lệ dinh dưỡng rất lớn trong đất. Một thử nghiệm kiểm tra tính khả thi của mỗi nông dân tham gia nuôi giun trong nông trại đã khuyến cáo.

9.9 Mô tả số lượng và chất lượng luân chuyển dinh duỡng trong nông trại/ vùng sản xuất

Cùng với việc lập kế hoạch thích hợp hầu hết nông dân đều có khả năng tạo ra một tỉ lệlớn sự màu mỡ trong nông trại của họ. Đầu vào từ bên ngoài nông trại cũng phải là hữu cơhoặc không bị nhiễm bẩn để nó không thể làm tổn hại đến tính toàn vẹn hữu cơ của nông trại.

Sử dụng các kĩ thuật hữu cơ để cân bằng dinh dưỡng trong đất sẽ mất thời gian như được mô tả ở trên (2.3 và 3.3) và tiến trình thì tăng thêm. Khi đất được cải thiện nó làm cho tăng thêm khả năng sử dụng dinh dưỡng được tạo sẵn trong đất của cây trồng

Tiến trình nên được củng cố thường xuyên bởi:

•   Kiểm tra đất

•   Phân tích lá

•   Quan sát đồng ruộng để kiểm tra sự thiếu hụt của cây

•   Đánh giá năng suất, chất lượng và khối lượng sản phẩm.

Đánh giá dinh dưỡng cây trồng lấy đi và lượng đầu vào thay thế theo nhu cầu được phác thảo trong phụ lục 2.

 

Phần 10