Tài liệu hướng dẫn

 dành cho giảng viên nông dân

Dựa vào:

Canh tác hữu cơ - Trường cao đẳng nông nghiệp hữu cơ, Đan Mạch
Tài liệu đào tạo của IFOAM về Nông nghiệp hữu cơ vùng nhiệt đới

(Tài liệu nội bộ không phát hành)

 

Các phần trước:  Phần 1.      Phần 2.    Phần 3.  Phần 4   Phần 5   phần 6

Trong canh tác hữu cơ, hầu như không có cách kiểm soát trực tiếp sâu bệnh hại cho cây trồng. Vì thế, đảm bảo cho các sinh vật gây hại không trở thành vấn đề chính là thách thức lớn – PHÒNG NGỪA là biện pháp chủ đạo và có một chiến lược QUẢN LÝsẽ tốt hơn là khống chế..

Cách quản lý phổ biến nhất là đưa ra các hoạt động có tính dài hạn để phòng ngừa sâu bệnh ảnh hưởng đến cây trồng. Công tác quản lý tập trung vào việc giữ mật độ sâu bệnh hại ở mức thấp. Hay nói cách khác, khống chế là một hoạt động có tính ngắn hạn và tập trung vào việctiêu diệt sâu bệnh hại. Phương pháp chung trong nông nghiệp hữu cơ là giải quyết nguyên nhân của vấn đề hơn là xử lý triệu chứng khi xuất hiện sâu bệnh hại. Vì vậy, quản lý sâu bệnh hại được ưu tiên số một thay vì khống chế.

 

7.1 Sức khỏe cây trồng

Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe cây trồng
Một cây trồng khỏe là nó ít bị tổn thương khi có sâu bệnh hại quấy phá. Vì thế, mục tiêu chính của nông dân hữu cơ là tạo các điều kiện để giữ cho một cây trồng khỏe mạnh. Sựtương tác giữa các sinh vật sống và môi trường là yếu tố cốt lõi đối với sức khỏe của cây trồng. Trong điều kiện thuận lợi, cây trồng tự có các cơ chế bảo vệ đấu tranh với sự lây nhiễm sâu bệnh hại. Đây là lý do vì sao một hệ sinh thái được quản lý tốt có thể là một cách làm giảm mức độ sâu hoặc bệnh hại hiệu quả. Một số giống cây trồng nhất định có các cơ chế bảo vệ hiệu quả hơn so với một số khác và vì vậy chúng có nguy cơ nhiễm sâu bệnh hại thấp hơn .

Điều kiện sức khỏe của một cây trồng phụ thuộc vào độ màu mỡ của đất (xem chương 3.1 và 4.1). Khi chất dinh dưỡng được cân bằng tốt, cây trồng trở nên mạnh mẽ hơn và vì vậy sẽ ít bị nhiễm sâu bệnh hại hơn. Ngoài ra, các điều kiện khí hậu, như nhiệt độ thích hợp và cung cấp nước đầy đủ, là các yếu tố rất cần thiết cho một cây trồng khỏe mạnh. Nếu một trong số các điều kiện này không phù hợp, cây trồng có thể bị căng thẳng sẽ làm suy yếu cơ chế tự vệ và khiến chúng dễ dàng trở thành mục tiêu của sâu bệnh hại. Một trong nhữngđiểm quan trọng nhất đối với nông dân hữu cơ là trồng cây khỏe. Trồng cây khỏe sẽ tránhđược nhiều vấn đề về sâu bệnh hại.

Hệ thống miễn dịch của cây trồng
Cây trồng có cơ chế của riêng chúng để tự vệ chống lại sâu hại và bệnh dịch. Cơ chế nàyđược xem như là hệ thống miễn dịch của cây trồng. Sâu hại và bệnh dịch không ngẫu nhiên tấn công tất cả các cây trồng, mà chúng chỉ tấn công những cây trồng không có khảnăng đấu tranh với chúng. Một số cây có khả năng ngăn chặn hoặc hạn chế sự xâm nhập của một hoặc vài loại sâu hại hoặc bệnh dịch. Khả năng này được gọi là sức đề kháng. Canh tác các giống có sức đề kháng là một biện pháp phòng ngừa quan trọng trong canh tác hữu cơ để giảm những thiệt hại do sâu bệnh gây ra.

 

Ví dụ: Quản lý bệnh hại lúa ở Việt Nam

Nông dân miền trung Việt Nam đã tham gia tập huấn trong lớp Huấn luyện nông dân. Các nghiên cứu đồng ruộng đã được bố trí để nghiên cứu bệnh hại lúa (bệnh Pyricularia grisea) và các chiến lược quản lý chúng. Các nhóm nông dân và Viện Bảo vệ thực vật quốc gia đã tiến hành các thử nghiệm lựa chọn giống qua nhiều năm, và kết quả là có 2 giống kháng bệnh được công bố. Giống MT6, do nông dân Ha Lam lựa chọn, hiện nayđược trồng trên diện tích 10,000 ha tỉnh Quảng Nam, đang được thay thế giống IR17494 dễ mắc bệnh.

Nông dân đã nhận thấy trong khu vực của họ, bệnh hại lúa có thể kiểm soát được thông qua việc sử dụng các loại giống kháng bệnh kết hợp với giảm bón đạm và tỉ lệ gieo hạt.

 Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ chế kháng cự của cây trồng. Một số có nguồn gốc gien di truyền; một số khác do các yếu tố môi trường trợ giúp. Một số cây trồng có khả năng kháng nhiều loại sâu hại và bệnh dịch, một số khác chỉ có thể đấu tranh với một loại côn trùng hoặc mầm bệnh mà thôi. Một số cây trồng kháng cự được qua suốt vòng đời cây trồng, một số khác chỉ có thể kháng cự ở những giai đoạn sinh trưởng nhất định.

Các cơ chế bảo vệ
Các cơ chế bảo vệ khác nhau của cây trồng làm cho chúng kháng lại một số sâu bệnh hại nhất định, có thể được phân loại như sau:

1) Không thích ứng: Là những cây có các yếu tố cản trở sâu hại hoặc ít kích thích dẫn dụchúng. Các yếu tố của cơ chế này gồm:

•    màu sắc không hấp dẫn một loại sâu hại nào đó,

•   thiếu những yếu tố dinh dưỡng cần thiết nào đó đối với sâu bệnh, hình thái tăng trưởng không hấp dẫn làm cho sâu bệnh không có nơi trú ngụ v.v...,

•   Lá có chất dính hoặc có lông dài ngăn cản khả năng di chuyển hoặc ăn cây của côn trùng,

•   có mùi hắc hoặc dầu thơm làm cho sâu hại tránh xa ,

•   lá phủ sáp làm sâu bệnh khó xâm nhập.

 

2) Bảo vệ chủ động:

Cây trồng kháng cự bằng cách ngăn chặn, gây hại hoặc thậm chí phá hủy sự tấn công của sâu hại. Cách này đòi hỏi cây trồng có sự tiếp xúc với sâu hoặc bệnh hại. Các cơ chế này gồm:

•   Trong lá có các chất hạn chế các bước trao đổi chất cần thiết của sâu hoặc bệnh hại

•   Các chất độc trong lá gây hại sâu bệnh khi chúng ăn vào

•   Lông bài tiết ra chất dính ngăn cản sự di chuyển của sâu hại

 

3) Chịu đựng được:

Thay vì các cách đấu tranh với sâu hại đề cập phía ở trên, cây có khảnăng chịu đựng tái tạo lá đủ nhanh để bù đắp lại sự tấn công của sâu bệnh hại mà không bị ảnh hưởng nhiều đến sự tăng trưởng và năng suất của cây trồng.

Ví dụ: Sự tăng trưởng đền bù

Một thí nghiệm ngắt lá giả bộ như sâu ăn lá trên cây cải bắp (gồm có cả sâu tơ khét tiếng) đã được tiến hành như l một phần của chương trình lớp HLND IPM ở Hà Nội, Việt Nam. Các công thức ngắt lá 0 (để đối chứng), 10, 20 và 50% được thực hiện 1 và 3 tuần sau trồng.

Trong vòng 2 tuần, quan sát số lá và chiều cao cây cho thấy sự ngắt lá không có ảnh hưởng rõ ràng. Học viên đã học được rằng cây trồng có thể đền bù lên đến 50 % bộ lá bị mất tròng thời gian 2 tuần và bị thuyết phục rằng không cần thiết phải hốt hoảng khi sâu bướm xuất hiện trên cây trồng.

page66image20712
 

 

7.2 Sinh thái học của sâu bệnh hại

Sinh thái học là nghiên cứu mối quan hệ giữa các sinh vật và môi trường xung quanh chúng. Môi trường của một loài côn trùng hoặc bệnh hại gồm các yếu tố vật lý như nhiệtđộ, gió, độ ẩm, ánh sáng và các yếu tố sinh học ví dụ như các bộ phận khác của loài, nguồn thức ăn, thiên địch và các đối thủ cạnh tranh (các sinh vật dùng chung nguồn thứcăn). Trong các hệ sinh thái nông nghiệp, côn trùng được xem là quần thể hơn là cá thể. Một côn trùng đơn lẻ ăn lá sẽ không làm giảm năng suất trong một cánh đồng lớn, nhưng một quần thể 10 nghìn con sâu bướm ăn lá sẽ ảnh hưởng đến năng suất.

Hình 12 – Các nhân tố ảnh hưởng đến sinh thái côn trùng

Mối quan hệ tương tác này là lý do khiến các loài côn trùng hoặc nguồn bệnh trong mọi hoàn cảnh không thể phát triển thành quần thể rộng lớn và phá hoại cây trồng. Điều kiện thời tiết có thể là không thuận lợi đối với một vòng đời ngắn. Giống cây trồng có thểkhông hấp dẫn cho côn trùng ăn hoặc cho mầm bệnh phát triển. Hoặc có đủ số lượng con săn mồi ăn con côn trùng. Vì thế, môi trường sinh thái xác định sự tăng trưởng của quần thể côn trùng và nó ảnh hưởng đến việc côn trùng liệu có thực sự trở thành sâu hại hay không.

Vòng đời của sâu hại
Không phải tất cả các giai đoạn sống của sâu hại là có thể tấn công cây trồng, nên hiểuđược vòng đời của chúng là rất quan trọng. Hiểu được giai đoạn nào của côn trùng hoặc mầm bệnh gây hại cây trồng, chúng xuất hiện khi nào và ở đâu, là mấu chốt để tiến hành các biện pháp phòng chống có hiệu quả (xem phần 5.1.2). Nuôi côn trùng có thể giúp tìm hiểu sâu hơn về vòng đời của những sâu hại tiềm ẩn.

Hơn nữa, hầu hết côn trùng hoặc mầm bệnh chỉ gây hại cao điểm ở một giai đoạn phát triển cụ thể của cây trồng. Vì thế, sự tương tác giữa vòng đời của sâu bệnh hại với các giaiđoạn phát triển của cây trồng là quan trọng ngang nhau.

Nuôi côn trùng: nghiên cứu vòng đời và khả năng săn mồi của côn trùng
Để nghiên cứu các giai đoạn khác nhau của một vòng đời côn trùng, cố gắng nuôi các con côn trùng trong một cái lồng nuôi côn trùng. Mặc dù, việc nghiên cứu toàn bộ vòng đời có thể là không dễ dàng nhưng nghiên cứu một số giai đoạn của vòng đời là có thể, ví dụ như

các giai đoạn côn trùng thường gây hại cây trồng. Thu thập một vài con côn trùng hoặc trứng, nhộng hoặc ấu trùng/kén trên ruộng và cho chúng vào một cái cốc/chai nhựa hoặc thủy tinh cùng một ít lá tươi lấy từ ruộng không phun thuốc. Khi nghiên cứu vòng đời của con săn mồi, chúng ta nên nuôi con săn mồi bằng những con mồi tương ứng. Cho một ít bông gòn/hoặc giấy ăn vào trong cốc/chai để ngưng tụ hơi nước làm cho môi trường trong cốc không bị khô. Đậy miệng cốc/chai lại bằng vải màn sạch cho phép không khí lưu thông và giữ chúng trong bóng tối.

Nuôi côn trùng cũng là cách làm phù hợp để tìm ra loại côn trùng nào sẽ qua các giai đoạn phát triển (ấu trùng/nhộng đến trưởng thành) từ các ổ trứng. Khi bạn muốn biết loại côn trùng là loài nào thì việc nuôi ấu trùng hoặc nhộng bạn tìm thấy trên đồng cũng là một biện pháp thích hợp. Tương tự như vậy, nuôi côn trùng còn là cách để biết được một con côn trùng liệu có phải là con săn mồi bằng việc thả một số con mồi vào trong lồng nuôi côn trùng (ví dụ rệp, bướm sâu nhỏ) và theo dõi trong một vài ngày. Bạn cũng có thể thấy một con săn mồi ăn mồi hiệu quả như thế nào bằng cách đếm số con mồi bị ăn trong một ngày và so sánh nó với tốc độ sinh sôi nảy nở của con mồi.

Tính năng động của quần thể sâu hại và con săn mồi
Như đã được nêu trong phần trước, côn trùng, ve, nấm, vi khuẩn và các loài khác phát triển tùy theo điều kiện môi trường. Bất kỳ khi nào điều kiện môi trường thuận lợi, mật độsâu hại và con săn mồi sẽ tăng lên, và khi điều kiện không thuận lợi mật độ của chúng ngược lại sẽ giảm xuống. Sự tương tác này trở nên rất quan trọng đối với sự năng động của quần thể sâu hại và con săn mồi của chúng. Bất cứ khi nào sâu hại tìm thấy điều kiện phù hợp để phát triển, số lượng của chúng sẽ tăng lên. Kết quả là, con săn mồi có nhiều thức ăn hơn và vì thế cũng tăng số lượng của chúng lên. Tuy nhiên, vì mật độ con săn mối cũng tăng lên nên mật độ sâu hại sẽ giảm xuống vì chúng là thức ăn phục vụ cho con săn mồi. Khi quần thể sâu hại giảm xuống sẽ hạn chế nguồn thức ăn của con săn mồi và quần thể con săn mồi sẽ co lại. Đó là lúc mật độ sâu hại có thể tăng một lần nữa và bắt đầu lại toàn bộ chu trình. Đây là nguyên tắc chung về tính năng động của quần thể có thể áp dụng nó bất cứ khi nào nguồn thức ăn là yếu tố hạn chế mật độ quần thể con săn mồi.

 

Tác động của thuốc trừ sâu

 

 

Hình 13 – Tính năng động về mật độ sâu bệnh hại

Sử dụng quá liều (và sử dụng sai) thuốc trừ sâu dẫn đến rất nhiều vấn đề nghiêm trọng đối với sản xuất nông nghiệp ở cả vùng nhiệt đới và vùng ôn đới trên thế giới. Những nông dân trồng lúa quy mô nhỏ ở Châu Á đã phải cân nhắc lại chiến lược kiểm soát sâu hại của họ bởi việc quá phụ thuộc vào thuốc trừ sâu dẫn đến bùng nổ các loại sâu hại mới, các vấnđề sức khỏe con người và chi phí đầu vào cao.

 

Hai tác động tiêu cực của việc sử dụng thuốc trừ sâu đối với mật độ sâu bệnh hại là:
1. Sự hồi sinh của mật độ sâu hại sau khi thiên địch bị loại trừ:

Trong một số trường hợp, thuốc trừ sâu có thể là nguyên nhân gây ra sâu hại, hơn là xử lý chúng. Vì nhiều thuốc trừ sâu tiêu diệt các sinh vật có lợi, sâu hại có thể tái sinh nhanh hơn sau khi phun thuốc, vì không có thiên địch ở đó để kiểm soát sự tăng trưởng quân số sâu hại. Với lýdo tương tự, những con sâu hại thứ yếu có thể trở thành những con sâu hại chính. Ví dụ ve nhện đỏ có rất nhiều thiên địch nhưng có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng ởnhững cánh đồng phun nhiều thuốc trừ sâu. Hiện tượng này được biết đến như là sự

trỗi dậy của sâu hại.

 

2. Sự phát triển của những quần thể sâu hại kháng thuốc trừ sâu: Khi thuốc trừ sâu được chất hóa học và trở nên kháng thuốc. Kháng thuốc nghĩa là một con côn trùng có thể chịu đựng được một loại thuốc trừ sâu mà không bị giết. Nhiều loài sâu hại nông nghiệp chủ yếu hiện nay biểu hiện khả năng kháng lại một số loại thuốc trừ sâu hoặc nhiều hơn thế và khi đó rất khó có loại thuốc hóa học nào có thể kiểm soát được những loại sâu hại này. Ví dụ về các con sâu hại kháng thuốc như:Rệp Myzus Persicae, bọ cánh cứng hại khoai tây (Leptinotarsa decemlineata), và sâu tơ hại cải (Plutella,xylostella).

 

Ví dụ: Rầy nâu hại lúa

Rầy nâu hại lúa (Nilaparvata lugens) có thể là loài sâu hại nghiêm trọng nhất đối với lúa nước ởChâu Á. Nó hút dinh dưỡng của cây trồng làm cho cây bị héo và khô cằn. Triệu chứng này được gọi là "cháy rầy". Rầy nâu có nhiều thiên địch xuất hiện tự nhiên ở hầu hết các điều kiện của Châu Á. Tuy nhiên sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu («sốc thuốc trừ sâu») đã giết chết các con thiên địch này. Đồng thời, rầy nâu trở nên kháng lại các loại thuốc trừ sâu giống nhau. Nó dẫnđến bùng phát mạnh mẽ sự phá hoại của rầy nâu. Thông qua chương trình Quản lý dịch hại tổng hợp (IPM), nhiều nông dân đã hiểu được công việc tuyệt vời của thiên địch và kết quả là việc sửdụng thuốc trừ sâu đã giảm xuống một cách đáng kể.

 

7.3 Biện pháp phòng ngừa

Việc hiểu biết về sức khỏe cây trồng và sinh lý sâu bệnh hại giúp nông dân lựa chọn các biện pháp phòng ngừa bảo vệ cây trồng hiệu quả. Vì có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến sựphát triển của sâu bệnh hại, điều vô cùng quan trọng là sự can thiệp tại thời điểm nhạy cảm nhất. Việc can thiệp có thể đạt được mục đích thông qua các biện pháp quản lý đúng lúc, có sự phối hợp tương thích với các biện pháp khác, hoặc sử dụng một biện pháp được lựa chọn cẩn thận.

Một số biện pháp phòng ngừa sâu bệnh hại quan trọng bảo vệ cây trồng:

1) Lựa chọn các giống kháng và giống đã thích nghi (xem chương 5.1.1)
•  Lựa chọn các giống đã thích nghi tốt với điều kiện môi trường địa phương (nhiệt độ, cung cấp dinh dưỡng, áp lực sâu bệnh hại) vì nó cho phép cây trồng sinh trưởng khỏe và chống lại sự lây nhiễm của sâu bệnh hại mạnh mẽ hơn.

 

2) Lựa chọn giống và vật liệu trồng trọt sạch (xem phần phía dưới):

•  Sử dụng hạt giống an toàn đã được kiểm tra kỹ nguồn bệnh và cỏ dại ở tất cả các giaiđoạn sản xuất.

•   Sử dụng vật liệu trồng trọt từ những nguồn an toàn.

 

3) Sử dụng các hệ canh tác phù hợp (xem chương 4.2 và 4.5):

•   Hệ canh tác hỗn hợp: có thể hạn chế áp lực sâu bệnh hại vì trong một hệ canh tác đa dạng có nhiều đời sống của côn trùng có lợi và có ít cây chủ để sâu hại sinh sống.

•   Luân canh cây trồng: giảm cơ hội nhiễm các bệnh từ đất và tăng độ màu mỡ cho đất.

•   Cây phân xanh và cây che phủ: tăng hoạt động sinh học trong đất và có thể tăng cường sự hiện diện của các sinh vật có lợi (nhưng đồng thời cả sâu hại; vì thế cần lựa chọn những loài thích hợp).

 

4) Sử dụng biện pháp quản lý dinh dưỡng cân bằng (xem chương 4.1):

•   Bón phân vừa phải: giúp cây sinh trưởng ổn định vì thế làm cho cây trồng không dễ bịsâu bệnh hại tấn công. Bón quá nhiều phân có thể là nguyên nhân gây mặn gây hại rễ cây, tạo điều kiện cho các sâu bệnh tiếp theo làm hại cây trồng (bị lây nhiễm thứ cấp)

•   Bón cân đối kali giúp phòng ngừa các loài nấm và vi khuẩn gây hại

 

5) Đầu vào của vật chất hữu cơ:

•   Tăng mật độ vi sinh vật và hoạt động trong đất, do đó làm giảm mật độ vi khuẩn và nấm gây bệnh trong đất.

•   Ổn định cấu trúc đất, cải thiện sự thoáng khí và thấm nước của đất

•   Cung cấp các vật chất tăng cường cơ chế tự bảo vệ của cây trồng.

 

6) Ứng dụng các biện pháp làm đất thích hợp(xem chương 3.3):

•   Thúc đẩy quá trình phân hủy những phần cây trồng bị nhiễm bệnh.

•   Điều hòa cỏ dại vì nó là vật chủ cho sâu bệnh hại.

•   Bảo vệ các vi sinh vật có chức năng điều hòa các bệnh từ đất.

 

7) Sử dụng biện pháp quản lý nước tốt:

•   Không đọng nước: gây căng thẳng cho cây trồng do đó khuyến khích sự lây nhiễm của các mầm bệnh.

•   Tránh nước đọng trên tán lá, vì nấm bệnh có thể nảy mầm trong nước và khi nước nhiễm bệnh nó phát tán bệnh qua các giọt nước.

 

8) Bảo tồn và khuyến khích thiên địch (xem chương 5.2):

•   Cung cấp nơi trú ngụ lý tưởng cho các thiên địch để chúng sinh sản và phát triển.

•   Tránh sử dụng các sản phẩm gây hại cho thiên địch.

 

9) Lựa chọn khoảng cách và thời gian trồng tối ưu:

•   TránhHầu hết sâu hại hoặc bệnh hại chỉ tấn công cây trồng trong một giai đoạn sống nhất định; vì thế điều cốt yếu là giai đoạn cây trồng dễ bị tổn thương không tương ứng với thời kì có mật độ sâu bệnh hại cao và vì vậy cần lựa chọn thời vụ tối ưu cho cây trồng.

•   Có đủ khoảng cách giữa các cây trồng để giảm sự phát tán bệnh hại

•   Sự thoáng khí tốt của cây trồng cho phép lá cây khô nhanh hơn cản trở mầm bệnh phát triển và lây lan.

 

10) Sử dụng các biện pháp vệ sinh thích hợp:

•   Dọn sạch các phần cây trồng bị nhiễm bệnh (lá, quả) ở dưới đất để tránh lây lan bệnh .

•   Loại bỏ các tàn dư cây trồng bị nhiễm bệnh sau khi thu hoạch.

 

Ví dụ: Sử dụng phân ủ có thể giảm các vấn đề bệnh hại như thế nào

Ngoài việc cải thiện mức độ dinh dưỡng của đất, phân ủ cũng có thể làm giảm các vấn đề bệnh hại. Sự xuất hiện của nhiều loại vi sinh vật khác nhau trong phân ủ sẽ cạnh tranh dinh dưỡng với các mầm bệnh hoặc chúng sản sinh ra những vật chất nhất định (gọi là thuốc kháng sinh) làm giảm sự sống và phát triển của mầm bệnh, hoặc chúng sống ký sinh trên mầm bệnh. Đây cũng là một hiệu quả gián tiếp đến sức khỏe cây trồng.

Ở Hải Phòng, miền Bắc Việt Nam, nông dân bón phân ủ vào đất bị nhiễm vi khuẩn héo xanh. So sánh với ruộng “làm theo tập quán của nông dân” (thường làm ở khu vực đó) nông dân thấy rằng cây cà chua phát triển tốt hơn và nhanh hơn với ruộng không bón phân ủ, vì điều kiện đất được cải thiện sẽ làm giảm phạm vi ảnh hưởng của sinh vật gây bệnh.

Xử lý hạt giống
Hạt giống nên xử lý để khống chế mầm bệnh kèm theo nó (bệnh hại gây ra từ hạt giống), và để bảo vệ hoặc chống lại sự tấn công của sâu bệnh hại trong đất đối với hạt giống, các rễ cây mới xuất hiện hoặc cây con còn non (bệnh hại gây ra từ đất). Có 3 phương pháp chính để xử lý hạt giống trong canh tác hữu cơ:

  1. Phương pháp vật lý: khử trùng bằng cách ngâm hạt giống trong nước nóng ( 50-60oC)

  2. Phương pháp thảo mộc: phủ hạt giống với một lớp chiết xuất từ thực vật như nước tỏi

  3. Phương pháp sinh học: phủ hạt giống với một lớp nấm đối kháng

Khi mua hạt giống ở công ty giống, chú ý xem phương pháp nào đã được công ty xử lýcho hạt giống vì xử lý hóa học sẽ không được phép sử dụng trong canh tác hữu cơ.

Ví dụ: Xử lý hạt giống bằng các tác nhân sinh học

Hạt giống có thể được bọc cùng với một lớp các tác nhân sinh học. Các tác nhân này thường là nấm hoặc vi khuẩn đối kháng hoạt động chống lại các mầm bệnh sinh ra từ đất. Một ví dụ là vi khuẩn Bacillus subtilis, được sử dụng như là một biện pháp xử lý hạt giống để kiểm soát một loạt mầm bệnh hại cây con như Fusarium spp., Pythium spp. and Rhizoctonia spp. là nguyên nhân gây bệnh lở cổ rễ và thối rễ. Loại này hiệu quả trong một phạm vi cây trồng lớn gồm cả đỗ tương, lạc, lúa mì, bông và các cây lương thực họ đậu. Các sinh vật đối kháng này phát triển và nhân bản ởphạm vi quanh rễ cây con. Chúng cạnh tranh với mầm bệnh tấn công rễ non mới mọc và vì vậy làm giảm nguy cơ gây hại cho cây trồng.

 

7.4 Khuyến khích thiên địch

Thiên địch và sử dụng thiên địch
Có nhiều loại sinh vật khác nhau trên đồng ruộng và không phải tất cả chúng đều là “sâu hại”; thực tế, nhiều côn trùng có thể có ích trong hệ sinh thái cây trồng. Các loại khác có thể chỉ là những vị khách của cây, đi qua và nghỉ lại trên cây hoặc đất, hoặc có thể là loại trung gian sống trên cây trồng nhưng không ăn cây cũng như không gây ảnh hưởng đến quần thể sâu hại như thiên địch. Thậm chí, những con côn trùng ăn cây cũng không nhất thiết là “sâu hại”. vì mật độ của chúng không đủ lớn để phá hoại cây trồng do cây trồng có khả năng tự đền bù một số thiệt hại không gây ảnh hưởng tới năng suất. Hơn nữa, côn trùng có thể là thức ăn hoặc là con chủ cho thiên địch ký sinh.

Thiên địch là “bạn của nhà nông” vì chúng giúp nông dân kiểm soát sâu hoặc bệnh hại cho cây trồng và chúng cũng không hại cho con người. Chúng có thể được chia thành 4 nhóm: con săn mồi (ăn các sinh vật gây hại), loài ký sinh (sống ký sinh trên sâu hại), tác nhân gây bệnh (gây bệnh trong các sinh vật gây hại) và tuyến trùng.

 

Đặc điểm của thiên địch

Con săn mồi

•   Các con săn mồi phổ biến là nhện, bọ rùa, bọ/kiến ba khoang và ruồi ăn rệp.

•   Con săn mồi thường săn mồi hoặc đặt bẫy để bắt con mồi làm thức ăn.

•   Con săn mồi có thể ăn nhiều loài côn trùng khác nhau.

Loài ký sinh

•   Loài ký sinh sâu hại phổ biến là những loài ong hoặc ruồi.

•   Chỉ có ấu trùng của loài ký sinh là sống nhờ và phát triển ở trên hoặc bên trong một con sâu chủ đơn lẻ.

•   Loài ký sinh thường nhỏ hơn con chủ của chúng.

Tác nhân gây bệnh

•   Là nấm, vi khuẩn, hoặc vi rút có thể gây bệnh và giết sâu.

•   Nó đòi hỏi những điều kiện cụ thể (ví dụ độ ẩm cao, ánh sáng mặt trời ít) để gây bệnh và nhân lên.

Tuyến trùng

•   Là loại giun rất nhỏ sống trong đất

•   Một số tuyến trùng tấn công gây hại cho cây trồng (ví dụ sưng rễ do tuyến trùng). Những tuyến trùng khác được gọi là tác nhân gây hại côn trùng, chúng tấn công và giết côn trùng.

•   Tuyến trùng gây có lợi thường chỉ có hiệu quả chống lại sâu hại ở trong đất, hoặc trong điều kiện ẩm ướt.

Khuyến khích và quản lý thiên địch

Quần thể thiên địch năng động có thể kiểm soát hiệu quả sâu bệnh hại và vì thế ngăn chặn sự nhân rộng của chúng. Vì vậy, nông dân hữu cơ nên cố gắng bảo tồn các loài thiên địchđang hiện diện trong môi trường canh tác và thúc đẩy sự ảnh hưởng của chúng.

Có thể khuyến khích và quản lý thiên địch bằng các biện pháp sau đây:

•   Giảm đến mức tối thiểu việc sử dụng thuốc sâu thiên nhiên (dù sao thuốc trừ sâu hóa học cũng không được phép sử dụng trong canh tác hữu cơ).

•   Cho phép một số sâu hại sinh sống trong ruộng để làm thức ăn hoặc làm con chủ cho thiên địch.

•   Hình thành một hệ canh tác đa dạng (ví dụ canh tác hỗn hợp).

•   Bao gồm cả việc duy trì những cây chủ trên ruộng để cung cấp thức ăn hoặc nơi trú ngụ cho thiên địch (ví dụ cây hoa là thức ăn của các con côn trùng có ích trưởng thành).

 

7.5 Các biện pháp cứu chữa bảo vệ cây trồng

Nếu mọi biện pháp phòng ngừa sâu bệnh hại bảo vệ cây trồng để ngăn cản thiệt hại kinh tếcho nông dân đều thất bại, thì cứu chữa có thể là việc cần thiết phải làm. Hành động cứu chữa nghĩa là khống chế sâu hoặc bệnh hại khi nó đã phá hoại cây trồng. Một vài biện pháp chữa trị đang sử dụng trong nông nghiệp hữu cơ là:

  1.   Biện pháp đấu tranh sinh học bằng cách sử dụng các con săn mồi và loài ký sinh tựnhiên hoặc vi sinh vật đối kháng.

  2. Thuốc trừ sâu tự nhiên dựa trên các chất điều chế từ thảo mộc hoặc các sản phẩm tựnhiên khác (nội dung này nằm trong chương 5.3).

  3. Kiểm soát cơ học bằng bẫy hoặc bắt bằng tay.

7.5.1 Đấu tranh sinh học bằng các con săn mồi tự nhiên/loài ký sinh tự nhiên hoặc vi trùng đối kháng

 Biện pháp đấu tranh sinh học là sử dụng kẻ thù tự nhiên (thiên địch) để quản lý mật độ sâu bệnh hại. Điều này có nghĩa là chúng ta đang ứng xử với hệ thống sống mà các hệ thống này thường phức tạp và nó biến đổi đôi lúc từ nơi này sang nơi khác. Các nguyên tắc cơbản của các hệ thống đấu tranh sinh học được giải thích tóm tắt dưới đây.

Nếu quần thể thiên địch hiện có ở trong ruộng quá ít không đủ để kiểm soát sâu hại, thì có thể nuôi thiên địch trong phòng thí nghiệm hoặc phòng nuôi thiên địch. Thiên địch nuôiđược thả vào ruộng để tăng mật độ thiên địch trong ruộng và giảm mật độ sâu hại xuống. Có hai phương pháp trong đấu tranh sinh học thông qua việc phóng thích thiên địch:

•   Thả thiên địch vào ruộng để phòng ngừa ngay đầu mỗi vụ. Phương pháp này được áp dụng khi thiên địch không thể duy trì tiếp tục từ vụ này sang vụ khác do điều kiện khí hậu không thuận lợi hoặc do không có đủ sâu hại. Quần thể thiên địch sau đó sẽ được thiết lập và phát triển suốt trong vụ cây trồng.

•   Thả thiên địch khi quần thể sâu hại bắt đầu là nguyên nhân gây hại mùa màng. Tác nhân gây bệnh thường được sử dụng trong trường hợp này bởi vì mầm bệnh không thểduy trì lâu và phát tán trong môi trường cây trồng mà không có con chủ (“sâu hại”). Sản xuất tác nhân gây bệnh cũng không tốn kém.

Những thiên địch tiêu diệt hoặc chặn đứng sâu bệnh hại thường là nấm hoặc vi khuẩn. Thiên địch loại này được gọi là vật đối kháng hoặc được xem như là thuốc trừ sâu vi khuẩn hoặc thuốc trừ sâu sinh học.

Một số vi khuẩn đối kháng được dùng phổ biến là:

•   ThảVi khuẩn Bacillus thuringiensis (BT). BT xuất hiện trên thị trường như một loại thuốc trừ sâu thương phẩm từ những năm 1960. Các loại thuốc BT khác nhau hiện sẵn có đểkiểm soát sâu bướm và bọ cánh cứng hại rau và các loại cây trồng nông nghiệp khác.

•   ThảCác loại vi rút như NPV (vi rút đa nhân), kiểm soát các loài sâu bướm rất hiệu quả. Tuy nhiên, từng loại côn trùng đòi hỏi một loài NPV cụ thể. Ví dụ: sâu khoangSpodoptera exigua là một trở ngại lớn trong sản xuất hẹ tây ở In-đô-nê-xi-a. Kể từ khi các thí nghiệm cho thấy SeNPV (NPV cụ thể cho S. exigua) khống chế sâu tốt hơn thuốc trừ sâu, nông dân đã ứng dụng biện pháp kiểm soát này. Nhiều nông dân ở Tây- Sumatra hiện nay đang sản xuất NPV ngay tại trang trại.

•   ThảNấm diệt côn trùng như Beauveria bassiana. Nhiều dòng nấm khác nhau đã sẵn có bán trên thị trường. Một số loại nấm có thể xuất hiện một cách tự nhiên trong hệ sinh thái. Ví dụ, rệp vừng có thể bị một nấm có màu trắng hoặc xanh tiêu diệt trong điều kiện thời tiết ẩm ướt.

•   ThảNấm chống lại tác nhân gây bệnh cây. Ví dụ Trichoderma sp., được sử dụng rộng rãi ởChâu Á để phòng ngừa bệnh từ đất như lở cổ rễ và thối rễ trên cây rau.

•   ThảTuyến trùng như Steinernema carpocapsae kiểm soát sâu hại trong đất như sâu xám (Agrotis spp.) hại rau.

 

7.5.2 Thuốc trừ sâu tự nhiên

Như đã giải thích trong chương 5.1, làm cho cây trồng khỏe mạnh là biện pháp bảo vệ tốt nhất để cây chống lại sâu bệnh hại. Thông qua các biện pháp canh tác đã được ứng dụng và với biện pháp quản lý tốt hệ sinh thái (các sinh vật có lợi), sự phá hoại có thể bị ngăn chặn hoặc giảm xuống. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các biện pháp phòng ngừa không đủ và sự phá hủy của sâu hại hoặc bệnh hại đối với cây trồng có thể tới mức gây hạiđáng kể về kinh tế. Khi đó các biện pháp kiểm soát trực tiếp bằng thuốc trừ sâu tự nhiên có thể là phù hợp. Ngược lại với các biện pháp cố hữu trong canh tác thông thường rằng thuốc trừ sâu là phương tiện tốt nhất và nhanh nhất để giảm sự phá hoại của sâu hại, nông dân hữu cơ hiểu rằng các biện pháp phòng ngừa là tốt hơn và chỉ khi phòng ngừa khôngđủ khả năng mới sử dụng thuốc trừ sâu tự nhiên.

Thuốc trừ sâu thảo mộc
Một số cây chứa những thành phần độc hại đối với côn trùng. Khi chất độc được chiết xuất từ cây này và phun cho cây bị sâu bệnh phá hoại, các thành phần này được gọi làthuốc trừ sâu thảo mộc hoặc thảo mộc. Việc dùng các chiết xuất thực vật để kiểm soát sâu hại không phải là mới mẻ. Thuốc trừ sâu từ cây dây mật (Derris sp.), chất ni-cô-tin (thuốc lá), và thuốc trừ sâu làm từ hoa cúc khô (Chrysanthemum sp.) đã được sử dụng rộng rãi ởcả trang trại qui mô nhỏ và nông nghiệp thương mại. Hầu hết các thuốc trừ sâu thảo mộc gây độc ở dạng tiếp xúc, hô hấp hoặc tiêu hóa. Vì vậy, chúng không mang tính chọn lọc cao mà hướng tới một phạm vi nhiều loại côn trùng. Điều này có nghĩa là thậm chí cảnhững sinh vật có lợi cũng có thể bị ảnh hưởng. Chất độc của thuốc trừ sâu thảo mộc thường không cao lắm và những tác động tiêu cực của nó đối với sinh vật có lợi có thểgiảm đáng kể bằng cách áp dụng có chọn lựa. Hơn nữa, thuốc trừ sâu thảo mộc nhìn chung là có khả năng tan rã sinh học cao đến mức chúng có thể hết tác dụng trong vòng vài giờ hoặc một vài ngày. Điều này giảm tác động tiêu cực đối với sinh vật có lợi và tương đối an toàn đối với môi trường.

Tuy nhiên, mặc dù là “tự nhiên” và được ứng dụng rộng rãi trong các hệ canh tác nông nghiệp, một số thuốc thảo mộc có thể nguy hiểm đối với con người và chúng có thể rất độc hại đối với thiên địch. Chất ni-cô-tin là một ví dụ, được chiết xuất từ cây thuốc lá, là một trong những chất hữu cơ độc hại nhất đối với con người và động vật máu nóng khác! Trước khi ứng dụng một loại thuốc trừ sâu thảo mộc mới trên diện rộng, những ảnh hưởng của nó đối với hệ sinh thái cần phải được thử nghiệm trước trên một diện tích nhỏ. Không nên sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc như là một lựa chọn định sẵn! Trước hết phải hiểu vềhệ sinh thái và thuốc thảo mộc ảnh hưởng đến nó như thế nào!

 

Chuẩn bị và sử dụng thuốc trừ sâu thảo mộc
Điều chế và sử dụng thuốc thảo mộc đòi hỏi phải biết cách làm nhưng không cần nhiều vật liệu và cơ sở hạ tầng. Nó là một cách làm phổ biến dưới nhiều hệ canh tác nông nghiệp truyền thống. Một số thuốc thảo mộc được dùng rộng rãi là:

•   XoanẤn độ

•   Hoa cúc khô

•   Cây dây mật

•   Gừng

•   Ớt cay

•    CúcvạnthọMêhicô

•   Tỏi

Các loại thuốc trừ sâu tự nhiên khác
Ngoài chiết xuất từ cây, có một số thuốc trừ sâu thiên nhiên khác được phép dùng trong canh tác hữu cơ. Mặc dù một số sản phẩm này có tính chọn lọc bị hạn chế và không phân hủy sinh học hoàn toàn nhưng trong một số tình huống khi sử dụng nó được điều chỉnh. Tuy nhiên, trong hầu hết các trường hợp, để đạt được tác dụng như mong đợi tốt nhất là sửdụng kết hợp với các biện pháp phòng ngừa bảo vệ cây trồng. Dưới đây là một số ví dụ:

Kiểm soát bệnh hại:

•   Lưu huỳnh; chống bệnh nấm,

•   Đồng; chống bệnh nấm (tích tụ lại trong đất và làm hại các sinh vật trong đất!),

•   Đất sét axit sunfuric; chống bệnh nấm,

•   Tro; chống bệnh gây ra từ đất,

•   Vôi bột; chống bệnh gây ra từ đất,

•   Đất sét; chống bệnh nấm,

•   Hợp chất của Natri nung chảy; chống bệnh nấm.

 

Kiểm soát sâu hại:

•   Dung dịch xà phòng loãng; chống rệp vừng và các côn trùng non khác,

•   Dầu khoáng nhẹ; chống nhiều loại côn trùng sâu hại (làm hại thiên địch!),

•   Lưu huỳnh; chống ve nhện (làm hại thiên địch!),

•   Tro cây trồng; chống kiến, sâu đục lá, sâu đục thân v.v...

 

7.5.3 Bẫy

Bẫy có thể giúp làm giảm mật độ của một số loại sâu hại nhất định. Nếu bẫy được sử dụng trong giai đoạn ban đầu, có thể ngăn chặn quân số nhân lên gấp bội. Có một số loại bẫy như sau:

•   Bẫy đèn thu hút những con côn trùng gây hại thường bay về đêm.

•   Bẫy chai bắt côn trùng và sên từ từ.

•   Bẫy dính, ví dụ một màu sắc sẽ thu hút một loại côn trùng nhất định.

•   Bẫy Pheromone thả một kích thích tố giới tính của con côn trùng cái, thu hút con đực và làm chúng bị mắc trong bẫy.


Nếu một số lượng lớn các hộp pheromone nhỏ rải đều trong một khu vực, các con côn trùng đực sẽ nhầm lẫn và không tìm thấy con cái để sinh sản.