CANH TÁC HỮU CƠ
Tham khảo cho sản xuất rau, quả và chè

Tài liệu hướng dẫn

 dành cho giảng viên nông dân

Dựa vào:

Canh tác hữu cơ - Trường cao đẳng nông nghiệp hữu cơ, Đan Mạch
Tài liệu đào tạo của IFOAM về Nông nghiệp hữu cơ vùng nhiệt đới

(Tài liệu nội bộ không phát hành)

1. Giới thiệu

Canh tác hữu cơ cố gắng làm việc nhiều với thiên nhiên tới mức có thể. Canh tác hữu

cơ có thể ứng dụng trong sản xuất cây trồng và động vật nuôi để tạo dựng nền móng

vững chắc cho sự sống của con người cũng như cho môi trường tự nhiên xung quanh.

 

Lịch sử tóm tắt về canh tác hữu cơ

Khó có thể nói nông nghiệp hữu cơ được xuất hiện vào lúc nào. Khái niệm về “hữu cơ”, là lựa chọn cách thức canh tác khác đã được biểu lộ trước khi phát minh ra các hóa chất nông nghiệp tổng hợp. Nó đã diễn ra trong những năm 1920-1940, từ sáng kiến của một số người tiên phong cố gắng cải tiến hệ canh tác truyền thống với những phương pháp đặc trưng của canh tác hữu cơ. Vào thời điểm đó, việc cải tiến là các phương pháp mới tập trung vào dinh dưỡng của đất trên cơ sở mùn đất và hướng vào cân bằng sinh thái trong phạm vi trang trại.

 

Khi việc giới thiệu các giống có năng suất cao kết hợp với việc sử dụng các hóa chất nông nghiệp và cơ giới hóa mạnh mẽ (Nông nghiệp "Cách mạng xanh”) trở nên phổ biến, một số người đã phản đối luận điểm mới này và các tập quán canh tác hữu cơ như làm phân ủ, cải tiến luân canh cây trồng, hoặc trồng cây phân xanh đã được tô vẽ. Lỗ hổng giữa canh tác hữu cơ và nông nghiệp thông thường (“hóa chất”) vì thế càng lớn hơn.

 

Tác động tiêu cực tới sức khỏe và môi trường của Cách Mạng xanh trong những năm 1970 và 1980 ngày càng trở nên rõ ràng, nhận thức của cả nông dân và người tiêu dùng về vấn đề “hữu cơ” tăng lên một cách chậm chạp. Hệ thống canh tác liên quan như “Nông nghiệp vĩnh cửu” hoặc “ nông nghiệp có đầu vào từ bên ngoài thấp” (LEIA)" đã được mở rộng.

 

Chỉ cho đến những năm 1990, trải nghiệm về canh tác hữu cơ tăng nhanh. Số vụ bê bối về thực phẩm và thảm họa môi trường đã khuyến khích và làm tăng nhận thức của người tiêu dùng và các chính sách hỗ trợ của một số nước. Cùng thời gian đó, một loạt cải tiến mới các kỹ thuật hữu cơ (đặc biệt là quản lý sâu hại theo phương pháp sinh học) và việc sắp xếp hệ thống canh tác hiệu quả hơn đã được phát triển.

 

Tuy nhiên, nông nghiệp hữu cơ chỉ hình thành một phần nhỏ trong nền nông nghiệp của thế giới, thậm chí hình thành với một tỉ lệ nhỏ trong cơ cấu canh tác của nông thôn cũng rất ít. Sự hỗ trợ từ phía nhà nước cho các hoạt động nghiên cứu, chuyển giao kỹ thuật hoặc marketing trong canh tác hữu cơ vẫn còn rất thấp ở hầu hết các nước. Mặc dù vậy, canh tác hữu cơ hiện nay đang hứa hẹn tốc độ tăng trưởng nhanh trên toàn thế giới.

LOOM on the farm profile film lissa ryan photography lifestyle photographer

 

1.1. Canh tác hữu cơ tại Việt Nam

Mặc dù có thể nói rằng nông dân ở tất cả các nước trên thế giới đã làm nông nghiệp hữu cơ cách đây hàng trăm năm, nhưng theo cách hiểu của quốc tế thì canh tác hữu cơ là hoàn toàn mới mẻ đối với Việt Nam. Cách đây khoảng 10 năm, một số công ty nước ngoài đã bắt đầu làm việc với một vài công ty nội địa và nông dân địa phương để canh tác hữu cơ cho mục đích xuất khẩu. Sau nhiều năm với chỉ vài trăm hecta canh tác dưới phương pháp quản lý hữu cơ cho đến nay ước tính có khoảng 6.475 ha đất canh tác hữu cơ. Những sản phẩm hữu cơ chủ yếu là thảo mộc như quế, hồi, gừng, chè, cá ba sa. Những sản phẩm này

đã được xác nhận theo tiêu chuẩn của các nước nhập khẩu như Châu Âu, Mỹ, và xác nhận của các cơ quan môi giới nước ngoài làm việc trong lĩnh vực thanh tra và chứng nhận sản phẩm.

Toàn bộ thị trường địa phương đã không được phát triển, mặc dù cách đây vài năm có một công ty đã cố gắng giới thiệu các loại rau hữu cơ tới người tiêu dùng Hà Nội. Hiện có một vài tổ chức quốc tế và địa phương đang hỗ trợ cho nông nghiệp hữu cơ (ngoài các tổ chức chính là ADDA và GTZ). Nhà nước cũng chưa có những chính sách cụ thể nào để hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ trong nước và cũng chính vì vậy, hiện vẫn chỉ có rất ít sự chú ý tới nghiên cứu và các dịch vụ chuyển giao về nông nghiệp hữu cơ.

Tuy nhiên, năm

2007 Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn (MARD) đã ban hành các tiêu chuẩn cơ bản cho nông nghiệp hữu cơ trong nước, có thể được dùng để tham khảo cho người sản xuất, chế biến và những đối tượng khác quan tâm đến các sản phẩm hữu cơ cho thị trường nội địa. MARD có kế hoạch cùng với các cơ quan của nhà nước Việtt Nam, các tổ chức phi chính phủ quốc tế, tư nhân, và các tổ chức khác xây dựng một hệ thống chứng nhận cho thị trường trong nước.

 

1.2. Tại sao cần làm nông nghiệp hữu cơ?

Thuật ngữ "Nông nghiệp thông thường” không rõ ràng nhưng ám chỉ đến xu thế nông nghiệp hiện nay tức là nông nghiệp trong đó có sử dụng các hóa chất, đối nghịch với nông nghiệp hữu cơ.

 

“Cách mạng xanh” – Liệu nó có xanh?

Việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu hóa học như một công nghệ đã được lan rộng ra hầu hết các nước nhiệt đới từ những năm 1960. Một phương pháp mới được kể đến trong

“Cách Mạng Xanh” bao gồm các kỹ thuật trọn gói được sử dụng nhằm tăng năng suất trên mỗi đơn vị diện tích canh tác.

Các kỹ thuật trọn gói này bao gồm:

Trồng độc canh những giống có năng suất cao (HYV)

Sử dụng đất canh tác tối đa (Thường với máy móc)

Sử dụng thuốc trừ cỏ để lọai trừ sự cạnh tranh của cỏ dại

Sử dụng thuốc trừ dịch hại (Thuốc diệt côn trùng, thuốc trừ nấm, trừ sên,     động vật thân mềm etc.) để loại trừ sâu bệnh hại.

Thâm canh cao với việc sử dụng các loại phân hóa học (N, P, K) thường được kết hợp với việc tưới nhiều nước.

Sau khi “Cách mạng xanh” đạt được những thành công ban đầu, nó đã hiển nhiên cho thấy rằng phương pháp canh tác này gây nhiều ảnh hưởng không mong muốn tới sức khỏe con người và cả các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác (đất, nước, đa dạng sinh học):

 

Đối với đất:  

Những khu vực đất đai màu mỡ rộng lớn trước kia đã bị suy biến vì xói mòn, hóa mặn hoặc bị rút kiệt toàn bộ dinh dưỡng.

Đối với nước:

Nguồn nước ngọt đã bị ô nhiễm hoặc bị khai thác quá mức do việc sử dụng quá nhiều hóa chất nông nghiệp và tình trạng tưới nước thừa mứa.

 

Đối với đa dạng sinh học:

Làm tiệt chủng nhiều loài thực vật, động vật hoang dã, tàn phá phong cảnh thiên nhiên và sinh cảnh ngày càng trở nên nghèo nàn ảm đạm.

Đối với sức khỏe con người:

Tồn dư thuốc sâu có hại trong thực phẩm hoặc nước uống gây nguy hiểm tới sức khỏe của cả người sản xuất và tiêu dùng. Ngoài ra còn bị tác động thêm bởi những rủi ro từ các chất kháng sinh trong thịt, sự nhiễm BSE (bệnh bò điên) và các sinh vật biến đổi gen (GMO).

Bên cạnh đó, loại hình nông nghiệp này dựa quá mức các đầu vào từ bên ngoài và tiêu hủy rất nhiều năng lượng từ các nguồn không thể tái sinh.

Sự thành công và những thiếu sót của Cách mạng xanh

Phải thừa nhận rằng với sự trợ giúp kỹ thuật của Cách mạng xanh, năng suất cây trồng đã tăng lên rất nhiều, đặc biệt là ở những vùng ôn đới Châu Âu và Bắc Mỹ.  Một số nước Phương Nam cũng đã trải nghiệm Cách Mạng xanh như một câu chuyện về sự thành công, mặc dù năng suất có tăng lên nhưng thường thấp hơn so với các nước phía Bắc.

Ví dụ như Ấn Độ đã cố gắng để trở thành một nước tự túc ngũ cốc nhưng nước này về danh chính ngôn thuận vẫn thường xuyên bị đói kém khốc liệt.

Tuy nhiên thành công của Cách mạng xanh ở khu vực phía Nam là không đồng đều: trong khi kỹ thuật làm cho năng suất tăng lên một cách đáng kể ở khu vực đồng bằng mầu mỡ phì nhiêu hoặc những vùng đất có đủ nước tưới, thì nó lại ít thành công hơn ở những vùng đất khó trồng trọt, mà những vùng đất này lại chiếm phần diện tích lớn ở vùng nhiệt đới.

Những vùng đất màu mỡ thường thuộc sở hữu của những nông dân giàu có hơn, còn những nông dân trồng trọt ở những khu vực không thuận lợi lại không được hưởng những kỹ thuật mới này.

Một trong những lý do không thành công của Cách mạng xanh trên những vùng đất khó canh tác là do hiệu quả bón phân thấp ở trên đất nhiệt đới: Khác với đất ở những vùng ôn đới, nhiều vùng đất nhiệt đới không có khả năng tích trữ phân hóa học để sử dụng. Dinh dưỡng dễ bị rửa trôi khỏi đất hoặc bay hơi như khí gas (N), vì thế có thể bị mất đi một phần lớn lượng phân bón.

Ở những nước có nhân công tương đối rẻ nhưng đầu vào đắt đỏ, phí tổn cho hóa chất nông nghiệp có thể chiếm một tỷ lệ lớn trong chi phí sản xuất. Thường những đầu vào này được mua nhờ tiền vay và được hoàn trả lại khi sản phẩm thu hoạch được bán. Nếu năng suất thấp hơn mong đợi (có thể do đất thiếu dinh dưỡng chẳng hạn) hoặc toàn bộ cây trồng bị thất thu (ví dụ do không khống chế được tấn công của sâu bệnh hại), nông dân vẫn phải bù đắp những chi phí hóa chất nông nghiệp họ mà đã dùng. Do đó mắc nợ là một vấn đề phổ biến trong nông dân ở khu vực phía Nam và nhiều người mắc vào “bẫy nợ” ngày càng sâu hơn. Trong khi giá nông sản có chiều hướng liên tục giảm xuống thì giá cho đầu vào lại tăng lên (chẳng hạn do giảm trợ giá), làm cho việc kiếm đủ thu nhập từ nông nghiệp thông thường của nhiều nông dân càng trở nên khó khăn hơn.

Lý do để sử dụng phân hữu cơ vi sinh

 

1.3. Nông nghiệp hữu cơ - Một phương pháp phối hợp toàn diện

Nông nghiệp hữu cơ là nhìn toàn cảnh “bức tranh lớn”
Nông nghiệp thông thường tập trung vào mục tiêu là đạt được năng suất tối đa của cây trồng cụ thể nào đó.

Nó dựa trên quan niệm giản đơn là: Năng suất cây trồng được tăng lên bởi các đầu vào dinh dưỡng và nó bị giảm xuống do sâu bệnh hại và cỏ dại, vì thế chúng cần phải bị tiêu diệt. Nông nghiệp hữu cơ là một phương pháp canh tác phối hợp toàn diện: Bên cạnh mục tiêu sản xuất hàng hóa chất lượng cao, một mục tiêu quan trọng không thể bỏ qua là bảo toàn nguồn dinh dưỡng tự nhiên trong đất, nguồn nước sạch và tính đa dạng sinh học phong phú. Nghệ thuật trong canh tác hữu cơ đó là việc sử dụng tốt nhất các nguyên tắc và tiến trình sinh thái. Nông dân hữu cơ có thể học được rất nhiều từ việc nghiên cứu các mối tương tác giữa các yếu tố khác nhau trong hệ sinh thái tự nhiên . Có thể liên hệ với hệ sinh thái của rừng sau đây.


Chu trình dinh dưỡng trong hệ sinh thái rừng
Cây rừng và các loài thực vật khác hút dinh dưỡng từ đất và tổng hợp nên các sinh khối của chúng (như lá, cành vv...). Khi lá rơi xuống hoặc cây bị chết đi, dinh dưỡng được quay trở lại đất. Những phần sinh khối bị ăn bởi các loài động vật khác nhau (bao gồm cả côn trùng), và phân của chúng thải ra trở thành nguồn dinh dưỡng được đưa trả lại vào trong đất. Ở trong đất một lượng rất lớn các vi sinh vật sẽ can thiệp vào quá trình phân hủy vật liệu hữu cơ để tạo thành dinh dưỡng sẵn có cho cây sử dụng. Hệ thống rễ cây dày đặc trong rừng sẽ thu lượm hầu như toàn bộ dinh dưỡng được phóng thích ra từ quá trình phân hủy này. Chu trình dinh dưỡng trong rừng
Quản lý dinh dưỡng hữu cơ cần dựa vào những vật liệu vi khuẩn có khả năng phân hủy như tàn dư thực vật và động vật. Chu trình dinh dưỡng được khép kín cùng với sự hỗ trợ của phân ủ, che phủ đất, trồng cây phân xanh, luân canh vv... Động vật nuôi trong trang trại cũng đóng một vai trò quan trọng trong chu trình dinh dưỡng: Phân của chúng có giá trị cao và có thể sử dụng là nguồn dinh dưỡng tái sinh với điều kiện là phải cùng với cỏ, vật liệu xanh, rơm rạ khô. Nếu được quản lý cẩn thận, việc mất dinh dưỡng do bị lắng lọc, xói mòn đất và bay hơi có thể giảm tới mức tối thiểu

Tái sinh dinh dưỡng giảm bớt sự phụ thuộc vào các đầu vào bên ngoài và giúp tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, nông dân cần phải tìm cách này hay cách khác để bù đắp lại lượng dinh dưỡng bị đưa ra khỏi trang trại qua các sản phẩm được bán ra. Độ phì nhiêu của đất trong hệ sinh thái rừng
Đất và độ phì của đất, cả hai cùng tạo thành trọng điểm của hệ sinh thái tự nhiên. Việc đất trong rừng thường xuyên được che phủ ít nhiều tạo nên độ phì của đất và ngăn cản xói mòn. Các vật liệu dinh dưỡng liên tục được cung cấp để nuôi một lượng lớn các vi sinh đất và tạo một môi trường sống lý tưởng cho chúng sẽ làm cho đất xốp mềm và có khả năng hút giữ một lượng nước lớn.


Bảo vệ đất trong sản xuất hữu cơ
Nông dân hữu cơ phải hiểu biết và việc bảo toàn và cải thiện độ phì của đất là tầm quan trọng cốt yếu. Cùng với phân hữu cơ, biết cách khuyến khích các vi sinh vật đất hoạt động và bảo vệ chúng khỏi bị hại từ thuốc sâu hóa học. Che phủ mặt đất (tủ gốc) và trồng cây che phủ là các biện pháp được sử dụng trong số các biện pháp khác để ngăn cản xói mòn.


Tính đa dạng trong các rừng
Trong rừng, thực vật có tính đa dạng cao về loài giống, về kích thước cũng như hệ thống rễ và những nhu cầu sống khác. Động vật cũng là một bộ phận của hệ thống này. Nếu một loài sinh vật rút ra khỏi hệ thống này, ngay lập tức nó được thay thế bởi một loài khác để lấp chỗ trống. Ở trong rừng, các khoảng trống, ánh sáng, nước và dinh dưỡng được sử dụng hiệu quả nhất và kết quả là tạo ra một hệ thống rất vững chắc.


Tính đa dạng cây trồng trong trại/nơi sản xuất hữu cơ
Trong trại sản xuất hữu cơ nên trồng luân canh hoặc xen một số loại cây trồng bao gồm cả cây to. Động vật là bộ phận được kết hợp trong hệ thống sản xuất của trại. Tính đa dạng này không chỉ cho phép sử dụng tối ưu các nguồn lực mà còn đáp ứng sự an toàn kinh tế trong trường hợp bị sâu bệnh hại tấn công hoặc giá cả thị trường giảm thấp cho một số loại cây trồng nhất định.

Sự cân bằng sinh thái trong rừng
Sâu bệnh luôn hiện hữu trong hệ sinh thái tự nhiên, nhưng hiếm khi chúng gây hại lớn. Nhờ có tính đa dạng mà sâu bệnh khó lan truyền. Cây cối thường có thể tự phục hồi khi bị hại và nhiều sâu hại bị kiểm soát bởi các sinh vật khác như các loại côn trùng hoặc chim chóc


Đấu tranh sinh học trong trại/nơi sản xuất hữu cơ
Nông dân hữu cơ cố gắng giữ cho sâu bệnh hại ở mức độ không gây thiệt hại kinh tế. Tập trung chủ yếu vào việc hỗ trợ cho cây khỏe và tăng sự chống chịu của cây trồng. Những côn trùng có lợi được khuyến khích bằng cách tạo môi trường sống và thức ăn cho chúng.
Nếu sâu bệnh đạt tới mức nguy hại, thiên địch và các loại thảo mộc điều chế sẽ được sử dụng. 


Mục tiêu của canh tác hữu cơ:
Từ những tiêu chuẩn của IFOAM, Liên đoàn Quốc tế các phong trào nông nghiệp hữu cơ (the International Federation of Organic Agriculture Movements)


Trong nông trại :
Bảo toàn và cải thiện độ phì nhiêu của đất
Thúc đẩy sự hợp tác có lợi giữa toàn thể các sinh vật có ích trong nông trại, từ vi sinh vật đến cây trồng và động vật nuôi. Tạo sự cân bằng giữa trồng trọt và chăn nuôi gia súc
Cung cấp cho động vật nuôi các điều kiện theo nhu cầu và thói quen sống tự nhiên của chúng


Sự tương tác với môi trường :
Duy trì và làm tăng tính đa dạng di truyền trong hệ sinh thái nông trại và tính tự
nhiên của môi trường xung quanh bao gồm bảo vệ thực vật hoang dại và tập
quán sống của động vật. Phát triển tập quán canh tác trong đó môi trường thiên nhiên được đưa vào suy xét đến mức tối đa có thể.  Sử dụng chu trình dinh dưỡng khép kín
và hình thành thói quen sử dụng nguồn dinh dưỡng từ địa phương.

Làm giảm tới mức tối thiểu việc sử dụng các nguồn tài nguyên không thể hồi phục trong nông nghiệp, công nghiệp chế biến bao gồm cả nhiên liệu hình thành từ xác động vật bị phân hủy. Cải thiện chất lượng rác thải hữu cơ thành thị và công nghiệp để có thể được tái sinh vào trong đất nông nghiệp

 

Những khía cạnh xã hội:
Khuyến khích tính đa dạng trong sản xuất, chế biến và phân phối sản phẩm,
đảm bảo công bằng xã hội và ổn định sinh thái
Đảm bảo chất lượng cuộc sống tốt cho tất cả mọi người tham gia vào sản xuất và tiến tới chế biến thực phẩm hữu cơ


Sự tín nhiệm:
Sản xuất thực phẩm với chất lượng tốt
Sản xuất và sử dụng những sản phẩm và bao bì có thể phân hủy bởi vi khuẩn
Ngăn ngừa bất cứ sự ô nhiễm nào có thể tăng lên từ các hoạt động của khu vực sản xuất. Khuyến khích chuyển đổi toàn bộ sản xuất trong vùng sang phương pháp sản xuất hữu cơ


Những mục tiêu này sẽ đạt được bởi:
Sự hợp tác chặt chẽ giữa nông dân và người tiêu dùng
Sự trao đổi kinh nghiệm và phương pháp giữa người sản xuất hữu cơ với các dịch vụ hỗ trợ bao gồm giáo dục liên quan và nghiên cứu các thể chế. 

Phương pháp canh tác hữu cơ không cho phép:
- Sử dụng phân bón, thuốc sâu tổng hợp...
- Ép buộc cây cối và động vật phát triển
- Công nghiệp hóa chăn nuôi gia súc
- Sử dụng cây trồng biến đổi gen

И почва «добреет», и урожай — на славу!

 


1.4. Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ


Bảo toàn sinh thái trang trại/vùng sản xuất
Như đã giải thích ở mục 1.3, việc sử dụng hóa chất nông nghiệp trong canh tác đang tạo ra những thiệt hại nghiêm trọng cho môi trường và sinh thái của vùng sản xuất, và là nguyên nhân gây ra các vấn đề như làm tăng độ mặn, làm nghèo dinh dưỡng đất, đất bị vón chặt, xói mòn, giảm tính đa dạng sinh thái trong đồng ruộng, suy kiệt mức nước ngầm, vv..


Những vấn đề về môi trường hiện nay đang đe dọa tới tính bền vững của cộng đồng và sản xuất nông nghiệp. Bảo toàn sinh thái vùng sản xuất bằng việc chấm dứt sử dụng hóa chất nông nghiệp, đặc biệt là thuốc trừ sâu và phân bón hóa học, có thể làm xoay chuyển những tác động tiêu cực này. Bảo tồn môi trường xung quanh và các loài thực vật địa phương đang có trong vùng sản xuất cũng sẽ có lợi cho việc cải thiện đa dạng sinh học.


Làm phong phú hệ sinh thái nông nghiệp hơn
Ngoài việc bảo toàn sinh thái, các nguyên tắc nông nghiệp hữu cơ yêu cầu nông dân nỗ lực cải thiện mối cân bằng sinh thái và dinh dưỡng đất. Các nguyên tắc này tạo ra sự khác biệt rõ rệt giữa nông nghiệp hữu cơ với nông nghiệp tự do hóa chất hoặc “nông nghiệp an toàn”. Biện pháp chính để cải thiện sinh thái vùng sản xuất là cải thiện đất bằng các vật liệu hữu cơ và làm tăng tính đa dạng sinh học.


Trong hệ thống canh tác nông nghiệp hữu cơ thì đất đai là yếu tố then chốt. Việc làm cho đất màu mỡ hơn cho phép cây cối thu được dinh dưỡng một cách đầy đủ và cân đối. Nó làm cho cây trồng khỏe mạnh để chống đỡ lại sâu bệnh hại và loại bỏ nhu cầu chỉ dựa vào vào thuốc trừ sâu của nông dân. Bên cạnh đó, hữu cơ tạo ra những sản phẩm có hương vị ngon, bảo quản tốt và sản xuất hữu cơ có thể làm tăng năng suất cây trồng theo cách bền vững hơn so với canh tác có sử dụng hóa chất.


Ngoài việc cải thiện dinh dưỡng đất, tăng tính đa dạng sinh học trong đồng ruộng là một yếu tố chủ đạo khác trong sinh thái nông trại bền vững. Đó là vì các sinh vật đa dạng sống bên cạnh nhau sẽ tạo điều kiện cho cân bằng sinh thái phát triển. Có nhiều cách để làm tăng đa dạng sinh học như xen canh, luân canh cây trồng, trồng cây to hoặc cung cấp những diện tích tự nhiên trong phạm vi hoặc xung quanh trại/vùng sản xuất.


Làm việc với chu trình tự nhiên
Các nguyên tắc của nông nghiệp hữu cơ được xác định dựa trên một nền canh tác bền vững phù hợp với quy luật tự nhiên, ví dụ như điều kiện khí hậu, chu trình dinh dưỡng, và sự năng động của các quần thể côn trùng. Nông nghiệp bền vững không lấy mục đích sản xuất để cố đấu tranh lại với thiên nhiên, nhưng cố gắng học từ thiên nhiên và điều chỉnh hệ
thống canh tác phù hợp với các phương pháp của tự nhiên.


Những tiến trình tự nhiên trọng yếu đối với nông nghiệp hữu cơ bao gồm: chu trình dinh dưỡng (đặc biệt là chu trình đạm và các bon), chu trình thủy phân, điều kiện khí hậu, ánh sáng, mối quan hệ sinh thái và tính cân bằng (Trong đồng ruộng và chuỗi thức ăn) . Ở những nơi khác nhau trên thế giới, điều kiện tự nhiên và điều kiện sinh thái cũng biến đổi khác nhau.

Nông dân tham gia vào nông nghiệp hữu cơ phải tự học từ những tình huống và những điều kiện của địa phương bằng cách quan sát, học tập, điều tra và nghiên cứu như một phần của tiến trình học tập. Học thông qua tiến trình này ở trên chính đồng ruộng của họ, nông dân có thể hưởng lợi đầy đủ nhất từ các tiến trình tự nhiên và sinh thái địa phương.


Ngăn ngừa sự ô nhiễm từ bên ngoài
Mặc dù nông nghiệp hữu cơ cấm sử dụng hóa chất tổng hợp trong sản xuất, nhưng môi trường xung quanh nơi canh tác hữu cơ có thể đã bị nhiễm bẩn từ sự ô nhiễm và đặt sản xuất hữu cơ vào tình thế có sử dụng những tàn dư không mong muốn, cả trong nguồn nước cũng như không khí hoặc ở ngay chính trong đất. Vì thế, nông dân hữu cơ phải cố gắng ngăn ngừa sự nhiễm bẩn từ bên ngoài vào khu vực sản xuất của họ. Việc ngăn ngừa có thể tạo những vùng ranh giới xung quanh nơi sản xuất hoặc thiết lập vùng đệm.

Tuy nhiên, để loại trừ toàn bộ sự nhiễm bẩn từ nguồn hóa chất gây ô nhiễm hiện thấy ở khắp nơi trong môi trường là rất khó. Ví dụ như trang trại hữu cơ có thể phải dùng chung nguồn nước với trang trại thông thường và nó có nghĩa rằng sản xuất hữu cơ ít nhiều đã bị nhiễm hóa chất. Vì vậy, nông dân hữu cơ nên cố gắng tới mức tối đa để ngăn ngừa sự nhiễm bẩn nhưng đồng thời đừng bao giờ đòi hỏi sản xuất hữu cơ có thể thoát khỏi sự nhiễm bẩn hoàn toàn.


Bên cạnh việc ngăn ngừa sự nhiễm bẩn từ bên ngoài, canh tác hữu cơ cũng quy định rằng nông dân phải hạn chế hoặc ngăn chặn sự nhiễm bẩn có thể xảy ra từ ngay quá trình sản xuất hữu cơ của trang trại. Ví dụ như phải xây dựng một hệ thống chứa đựng xử lý rác thải nhà bếp và nước cống trước khi chúng được thải ra ngoài trại sản xuất. Ngoài ra những vật liệu có thể bị nhiễm bẩn cũng bị cấm sử dụng làm vật đựng sản phẩm hữu cơ.

 
Tự cấp vật liệu sản xuất
Trong nông nghiệp hữu cơ, nông dân phải sử dụng một số vật liệu sản xuất như phân bón
hữu cơ, hạt giống vv...Nông nghiệp hữu cơ có một nguyên tắc là nông dân nên tự làm ra
tới mức tối đa những vật liệu này ngay trong trại sản xuất của họ. Tuy nhiên, trong truờng
hợp nông dân không có khả năng tự sản xuất đầu vào, (ví dụ khi không có đủ diện tích
hoặc yêu cầu đầu tư cao để sản xuất những vật liệu cần thiết cho sản xuất) nông dân có thể
mua hoặc thu những vật liệu ở ngoài vùng sản xuất của mình, nhưng những vật liệu này
nên sẵn có trong khu vực của địa phương

Learn how to plant and grow carrots – DIY tutorial - NaturalGardenIdeas.com

 


1.5. Lợi ích của nông nghiệp hữu cơ

Lợi thế của canh tác hữu cơ có thể được so sánh với canh tác thông thường và được tóm
tắt như sau :
Duy trì và bảo toàn độ phì nhiêu của đất
Ít gây ô nhiễm nguồn nước (nước ngầm, sông, hồ)
Bảo vệ đời sống hoang dã (chim chóc, ếch nhái, côn trùng v.v...)
Đa dạng sinh học cao, nhiều cảnh đẹp khác nhau
Đối xử tốt hơn với động vật nuôi
Ít sử dụng năng lượng và đầu vào không có khả năng phục hồi từ bên ngoài
Ít dư lượng thuốc trừ sâu trong thực phẩm
Không có hooc môn và chất kháng sinh trong các sản phẩm động vật
Chất lượng sản phẩm tốt hơn (hương vị, đặc tính tích lũy)


1.6. Có phải canh tác truyền thống là hữu cơ ?

Chỉ từ những năm 60, nông nghiệp hóa chất đã sử dụng trên một phạm vi rộng lớn. Vì thế,
những cộng đồng nông nghiệp không bị ảnh hưởng bởi cái gọi là “Cách mạng xanh” đã tự động tiếp nhận những tiêu chuẩn quan trọng nhất của nông nghiệp hữu cơ, nghĩa là không sử dụng bất kỳ phân bón, thuốc trừ sâu hóa học và sinh vật biến đổi gen nào. Hệ thống nông nghiệp này được đề cập tới như là “Canh tác truyền thống”.


Hơn vài thập kỷ qua, trọng điểm trong nông nghiệp đã được thay đổi điển hình chủ yếu từ nền nông nghiệp mà dựa vào nó chỉ vừa đủ sống (cho tiêu dùng của bản thân người sản xuất) đến sản xuất cho thị trường (cho tăng thêm thu nhập tài chính). Trong nhiều nước, mật độ dân cư tăng lên một cách nhanh chóng và nhiều hệ thống canh tác truyền thống đã
không thể đáp ứng được năng suất mong đợi của nông dân. Khoảng thời gian để đất nghỉ ngơi không canh tác bị giảm xuống do việc chăn thả hoặc khai thác trồng trọt quá mức, nhiều khu vực được canh tác theo truyền thống đã phải đối mặt với sự suy biến trầm trọng.


Cùng thời điểm đó, những giống cây trồng năng suất cao được giới thiệu lại có chiều hướng dễ mắc bệnh. Canh tác hữu cơ cố gắng đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của sự gia tăng dân số trong khi nó không gây rủi ro cho đất ở vùng sản xuất có thời gian canh tác lâu dài.
Nhiều biện pháp và kỹ thuật canh tác hữu cơ được xuất phát từ một vài hệ canh tác truyền thống trên toàn thế giới. Tuy nhiên, không phải tất cả hệ canh tác truyền thống được sử dụng cho hữu cơ, đôi khi chỉ vì lý do đơn giản là chúng không được biết đến trong một lĩnh vực cụ thể. Ngoài ra, canh tác hữu cơ kết hợp việc tận dụng một loạt các kỹ thuật hiện đại sẵn có như sử dụng vi khuẩn đối kháng trong quản lý dịch hại, những giống năng suất cao nhưng kháng sâu bệnh hoặc sử dụng các cây phân xanh có hiệu quả cao.


Hình vẽ sau minh họa những điểm tương đồng và khác nhau chủ yếu giữa canh tác truyền thống và hữu cơ:

 

1.7. Sản xuất nông nghiệp "An toàn"

Sản xuất "An toàn" đã đạt được ý nghĩa quan trọng ở Việt Nam trong những năm qua đặcbiệt đối với sản xuất rau ở những nơi có nhiều tồn dư thuốc trừ sâu. Trái ngược với sản
xuất hữu cơ, sản xuất “an toàn” không cố gắng tự kiềm chế sử dụng hóa chất nông nghiệp
mà chỉ tập trung vào việc giảm sử dụng nó. Trong bảo vệ thực vật, nông nghiệp an toàn

 

Canh tác truyền thống và hữu cơ có những đặc điểm chung:

Không sử dụng phân bón,thuốc sâu, thuốc trừ nấm,trừ cỏ hóa học, chất kích
thích sinh trưởng vv.
Không sử dụng cây trồng, động vật được tạo bởi kỹ thuật gen
Sử dụng phân động vật.

Những biện pháp hữu cơ có thể thấy trong canh tác truyền thống:
Chu trình dinh dưỡng khép kín, sử dụng đầu vào từ bên ngoài thấp
Phục hồi sinh quân qua việc phủ gốc hoặc ủ phân
Xen canh và/hoặc luân canhcây trồng


Quản lý bền vững nguồn tàinguyên:

đất, năng lượng,nước, Duy trì sự màu mỡ của đất và ngăn chặn xói mòn. Thân thiện với thói quen củađộng vật nuôi

Những điểm cụ thể đối với canh tác hữu cơ:
Sử dụng những chế phẩm sinh học để quản lý sâu bệnh hại
Thả hoặc thu hút những côn trùng có ích

Sử dụng giống cây trồng, động vật kháng sâu bệnh hại có năng suất cao
Giới thiệu những cây phân xanh, cây che phủ, cố định đạm hiệu quả


Sử dụng những công cụ cải tiến để làm đất, gieo hạt, nhổ cỏ, vv.
Ứng dụng những phương pháp ủ phân đã được cải tiến và phân vi sinh được sử dụng kết hợp với các biện pháp đấu tranh sinh học và thuốc sâu hóa học (Quản lý dịch hại tổng hợp). Nếu sâu bệnh hại đạt tới mức nguy hiểm, thuốc trừ dịch hại hóa học sẽ được sử dụng. Đối với dinh dưỡng cây trồng, phân hóa học có thể được sử dụng, nhưng được xác định là luôn ở mức cao nhất.
Về cơ bản, sản xuất “an toàn” cho phép sử dụng những phương pháp giống với canh tác nông nghiệp thông thường, nhưng nó cố gắng giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng sản phẩm và môi trường. Nó xa vời so với suy luận và cách phối hợp toàn diện vật chất vũ trụ của nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, nó có thể đóng góp đáng kể để cho một môi truờng lành mạnh hơn, và vì thế nó được số đông nông dân làm theo dễ dàng hơn.


Việt Nam đã có những quy định cụ thể cho sản xuất rau an toàn nhưng không có quy định cụ thể về nhãn hiệu cho rau “an toàn”. Cũng như vậy, hệ thống chứng nhận chưa được phát triển đầy đủ. Do một số vấn đề trước kia và có những khoảng trống trong hệ thống
cấp chứng nhận nên sự tin tưởng vào sản phẩm “an toàn” của người tiêu dùng vẫn cònthấp.

Trong thực tế, một số nước trên thế giới đã phát triển nhãn hiệu và một hệ thống kiểm soát cho sản xuất theo phương pháp tổng hợp. Thuật ngữ sản xuất "An toàn" hay "Sạch" rất không được ưa thích vì nó tạo một ấn tượng không công bằng về chất lượng của sản phẩm khi vẫn sử dụng hóa chất để sản xuất. Vì thế, ở một số nước, hệ thống sản xuất này được gọi một cách chung chung là sản xuất “xanh”.